|
(VietNamNet) - Từ
Bỉ, GS TSKH Nguyễn Đăng Hưng, GS trưởng trường ĐH Liège, gửi
về VietNamNet những ghi nhận chắt lọc về giáo dục từ
kinh nghiệm 40 năm là nhà giáo, nhà khoa học.
|
| GS
Nguyễn Đăng Hưng: Tôi tự hỏi các ĐH
Việt Nam chừng nào mới so sánh được với các ĐH quốc tế
khi thói “cha truyền con nối” đang hiện hành khá phổ
biến! |
Liège ngày
13/10/2004
Tôi không phải là
chuyên gia nghiên cứu các hệ thống giáo dục, không phải là nhà
kinh tế. Tôi chỉ là một kỹ sư, một nhà giáo, một nhà nghiên
cứu trong một lĩnh vực công nghệ mũi nhọn khá chật
hẹp. Tôi chỉ nhắc đến ở đây những cảm nhận của mình sau
gần 40 năm là nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học, được tiếp cận
với các trung tâm nghiên cứu, các trường ĐH lớn ở cả châu Á,
châu Âu, châu Mỹ và châu Úc.. Tôi cũng đã tham gia, đi thỉnh
giảng thường xuyên tại Việt Nam từ năm 1977 cho tới ngày nay,
trừ mười năm đứt đoạn (1979-1989). Những điều ghi ở đây, ngoài
những kinh nghiệm riêng, cảm nhận cá nhân, phần lớn là những ý
kiến đã có người đã nhắc đến, trong ấy có một số đồng nghiệp
bạn bè mà tôi được dịp gần gũi và trao đổi.
Trong kiến nghị vắn
tắt, tôi có đề cập đến việc cần có những bước đột phá
trong việc cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam (GDVN) bao gồm
ba điểm sau đây:
1. Đổi mới tư duy về
GD
2. Vì sự lúng túng kéo
dài hàng mấy thập kỷ, cần có quyết tâm, thời gian và lộ
trình trong việc cải tổ .
3. Để thực hiện cải tổ
phải có người mới trong và ngoài nước, có thành phần đã từng
cọ xát với các nền GD của các nước tiên tiến tham gia vào ban
đề xuất ý kiến, ban tổ chức, ban kiểm
tra...
Nay, xin dẫn giải
thêm.
Bài
1: Mười đề
xuất đổi mới tư duy
Lãnh đạo và
quản lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ
tốt
Đổi mới tư duy, trước
hết là đoạn tuyệt với lề lối tập trung quan liêu, nói nôm na
là thói quen ôm đồm, cái gì cũng muốn nắm, cái gì cũng muốn
quản lý mà không có khả năng, tài lực, phương pháp, gây trì
trệ, nhũng nhiễu cho nền giáo dục quốc dân… Lãnh đạo và quản
lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt. Phục vụ muốn có hiệu
quả thì phải mở cơ chế cho thật thoáng để tăng cường khả năng
phục vụ.
Cần nhanh
chóng trao quyền tự quản cho các trường
ĐH
Chẳng hạn, Bộ GD-ĐT
cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường ĐH, bắt đầu
bằng những trường trọng điểm, trường lớn. Quyền tự quản này
bao gồm: tuyển sinh, cấp bằng, quản lý và bổ nhiệm nhân sự, tổ
chức và kế hoạch việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học… Bộ chỉ
dừng lại ở quản lý khung: ngân sách (phần Nhà nuớc rót về
trường như thế dĩ nhiên gián tiếp chi phối việc bổ nhiệm nhân
sự), học trình quốc gia (bất cứ trường nào cũng phải
tuân thủ chương trình học do Bộ đề ra), chế độ (mức
lương tối thiểu, chức danh, học hàm, tài trợ những hướng phát
triển trọng điểm, cho bổng học sinh nghèo, hỗ trợ học sinh
vùng sâu vùng xa…), thanh tra giám sát, hiệp thương hợp
tác quốc tế trên bình diện vĩ mô, v.v…
Trở về thực
học để đào tạo người có thực tài
Tư duy giáo dục hiện
nay chạy theo thành tích, con số, hư danh. Chính tư duy có
"tính phong trào “ này đã dẫn đến tâm lý sính ĐH, coi
thường CĐ, sính bằng cấp. Mấy năm gần đây, tại các ĐH, viện
nghiên cứu lại đào tạo tràn lan thạc sĩ, tiến sĩ, có danh mà
không thực. Đào tạo cán bộ giảng dạy cao cấp mà không cẩn
thận thì sẽ có tác hại lâu dài đến hàng chục thế hệ. Ta phải
trở về thực học để đào tạo người có thực tài - trở về
với quan điểm truyền thống của dân tộc Việt : Nhất nghệ
tinh nhất thân vinh.
Cần phân
luồng, phân tầng trong việc tổ chức giáo dục
Phân luồng, phân tầng
trong việc học cần bắt đầu từ trung học. Hiện nay, tâm lý phụ
huynh là coi thường CĐ. Nhưng tâm lý này sẽ khắc phục không
khó nếu các trường CĐ gắn bó với các doanh nghiệp trong quá
trình đào tạo, có cơ chế liên thông rõ ràng minh bạch, nếu
các trường tăm tiếng có quyết tâm tham gia thực hiện cơ chế
này. Phụ huynh nào lại chả muốn con mình nhanh chóng có
việc làm giúp kinh tế gia đình, nếu con em mình sau vài năm
CĐ, năng khiếu được lộ rõ qua kết quả cụ thể, được xét tuyển
vào các trường lớn để đi xa hơn.
Nên mềm
đầu vào và cứng đầu ra
Các trường ĐH không
nên tổ chức đào tạo như cái ống, mà đào tạo theo hình
chóp. Tại các nước phương Tây có áp dụng nguyên tắc chủ
đạo: "Chỉ cấp bằng cho những người đạt trình độ". Họ
quan niệm là cấp bằng cho người không đạt trình độ là chẳng
những giúp tay làm hư hại xã hội mà trước tiên làm hư hại
chính người được cấp bằng. Bởi vậy, thông thường đầu vào
thì đông nhưng đầu ra thì không nhiều. Học viên hai năm đầu bị
đánh rớt rất đông, cấm thi lại quá bốn lần. Như vậy, các em có
điều kiện nhanh chóng đổi ngành, chuyển qua CĐ, cho phù hợp
với năng khiếu của mình, không mất thời gian gây hao tốn cho
xã hội và gia đình.
Do đó, không cần phải
tổ chức thi tuyển ĐH nặng nề mà chỉ cần xét tuyển nhẹ nhàng
qua quá trình học vấn cấp tú tài. Nếu cần xác định rõ hơn về
trình độ thì nên tổ chức phỏng vấn trực tiếp để loại bỏ những
học viên có hồ sơ với độ tin cậy thấp. Điều này đồng nghĩa với
việc phải tổ chức lại một cách nghiêm chỉnh hơn các kỳ thi tú
tài ở trung học. Thi tú tài là xác định trình độ năng khiếu
bậc trung học của học sinh. Việc xác định này cần được tổ chức
chu đáo và đồng khắp trong đó tính khách quan và công bình
phải được đảm bảo... Phải xóa bỏ tận gốc thói quen ai cũng
xuất sắc, ai cũng tiên tiến. Thói quen này có lẽ phát
xuất từ chỗ thiếu tự tin, ngại chịu trách nhiệm, không dám
đánh rớt.
|
| Cải cách giáo dục để trẻ em thực sự "mỗi ngày đến
trường là một ngày vui". (Ảnh:
NV) |
Không nên lẫn
lộn giữa GD và tuyên truyền
Trong quá khứ, ta hay
nói đến GD tuyên truyền. Trong kháng chiến, điều này là phù
hợp. Nhưng hiện nay là giai đoạn hội nhập, nếu tiếp tục
có tư duy lẫn lộn giữa GD và tuyên truyền thì ta không chóng
thì chầy sẽ đi đến ngõ cụt của tri thức, đến tụt hậu của tư
duy.
Bởi vì tuyên truyền,
mang tính tình thế, là hướng đối tượng đi theo đường lối,
chính sách. Còn GD đúng nghĩa mang tính nhân văn, lâu dài và
phổ quát, lấy con người làm gốc, là phải làm sao tạo điều kiện
để đối tượng có hiểu biết để họ hành sự như một thể độc lập,
đủ khả năng thích ứng với sự thay đổi vô cùng của bối cảnh,
của cuộc sống, của sự việc. Đó là điều tất yếu của cuộc cạnh
tranh sinh tồn trong xu thế hòa nhập.
Tóm lại, đổi mới tư
duy trong GD, trước hết xoá bỏ mọi áp đặt, tuyên truyền, nhồi
nhét, là làm thế nào để con em chúng ta có thể hấp thụ bài học
một cách tự nhiên, thoải mái. Có như thế các em mới có thể tự
tin, tự khám phá, tự vận dụng sáng tạo ra những sản phẩm mới,
vươn lên gánh vác sự nghiệp xây dựng đất nước, tranh đua với
các dân tộc khác, hiện nay đang đi trước vì có nhiều may mắn
hơn chúng ta.
Các nước tiên tiến,
đặc biệt là ở châu Âu, đã làm được điều này. Tại Việt Nam, tôi
có cảm tưởng tình trạng nhồi nhét kiến thức đã đem đến hậu quả
bất ngờ, những phản ứng ngược. Qua kinh nghiệm phỏng vấn mười
khóa tại TP.HCM và sáu khoá tại Hà Nội, tôi thấy phần lớn các
em đã tốt nghiệp kỹ sư, nhiều em ra trường ba-bốn năm rồi
nhưng lại biết rất ít về lịch sử dân tộc, ngay cả danh nhân
của tỉnh mình, làng mình họ cũng không để ý tới. Ngay cả lịch
sử hai cuộc kháng chiến gần đây họ cũng rất lơ mơ. Tôi buồn
quá nên đã có lần hỏi tại sao như thế? Khi không biết về lịch
sử của chính dân tộc mình thì làm sao các em có thể làm tròn
bổn phận của một công dân? Các em ấy đã trả lời thế này:
“Thầy ơi, chương trình học vấn hiện nay quá tải, nhiều giáo
trình áp đặt, nhồi nhét chán quá, tụi em học trả bài cho qua,
học xong là quên hết”. Đó chính là phản ứng ngược. Và
khi tuổi trẻ có phản ứng ngược như vậy là họ đã
mất lòng tin, mất hứng thú trong việc học.
Ta đang trả giá cho những chọn lựa sai lầm
trong các quốc sách về GD-ĐT, bắt đầu đã gần hai thập kỷ
qua.
Một kinh nghiệm khác
cũng cần nhắc đến ở đây. Có lần, một công ty phần mềm tính toán
thiết kế cơ học hàng không ở Bỉ có nhờ chúng tôi giúp
đỡ để chuẩn bị mở một công
ty tương tự tại Việt Nam. Đã thuê phòng ốc tại TP.HCM, đã
đến giai đoạn gởi cộng tác viên sang Bỉ thực tập. Sau khi thẩm
tra, họ quyết định không mở. Vì sao? Một trong những lý do là
vì các kỹ sư Việt Nam không có tinh thần tự lập, sáng
tạo. Học thì rất giỏi nhưng trước nghịch cảnh lại
không có tư duy sáng tạo, điều tiết công việc. Người Bỉ
trong việc kiểm tra đã cố ý đưa ra những bài toán đầu đề có
chỗ sai. SV Bỉ họ sửa cái sai, trong khi
SV ta vẫn giữ
cái sai đó và dĩ nhiên là giải sai luôn. Đó chính là sự khác
biệt.
Trả lại cho
nhà trường chức năng "thế nhân"
Để thoát ra khỏi khủng
hoảng hiện nay đã đến độ báo động, ta nên trả lại cho nhà
trường chức năng "thế nhân" của nó (dịch chữ "laïcité" - tiếng
Pháp). Nhà trường chân chính không thể là chỗ đào tạo ra những
người chỉ biết vâng vâng dạ dạ, lặp đi lặp lại ngày này qua
tháng khác những công thức vô bổ. Đổi mới tư duy
còn cần trở về với bản sắc chân chính của dân tộc và những giá
trị trường cửu của truyền thống phương Đông. Đổi mới tư duy
cần đề cao nhân cách.
Tổ chức giáo
dục cần hướng tới tri thức quốc tế
Hướng tới tri thức thế
giới trước hết là phải giỏi ngoại ngữ. Mỗi SV cần phải thông
thạo mỗi người hai ngoại ngữ. Tôi muốn nhấn mạnh ở chữ thông
thạo chứ không phải hiểu biết sơ sài như trình độ các SV tốt
nghiệp ĐH hiện nay. Muốn vậy, cần tổ chức dạy ngoại ngữ
ngay ở cấp tiểu học.
Ta đã có một phương
tiện hữu hiệu vô song: Internet. Việc mở rộng sử dụng
Internet, công nghệ thông tin là khâu quyết định cho việc cập
nhập tri thức mới mẻ, hiện đại... Vấn đề ở đây là tổ chức
việc mở rộng ở tầm mức quốc gia vì điều kiện kinh tế còn giới
hạn của ta. Tôi lấy làm lạ là Bộ GD-ĐT đã làm rất ít cho
việc này... Thí dụ: các trường ĐH Việt Nam đang ở trong tình
trạng vô cùng thiếu thốn tài liệu, sách, tạp chí khoa học cần
thiết cho việc nghiên cứu. Lẽ ra Bộ GD-ĐT cần từ lâu đã
thương lượng với các nhà xuất bản để SV thông qua mật khẩu, có
thể vào các website của các nhà xuất bản tiếng tăm, tham
khảo những tài liệu đã xuất bản. Các SV của chúng tôi đưa sang
châu Âu đều được hưởng miễn phí dịch vụ này. Họ đã bảo: Ngồi
tại Bỉ nghiên cứu một ngày bằng một tuần ở Việt
Nam!
Yếu tố quốc tế
cần trở thành tiêu chí căn bản trong việc đánh giá chất lượng
các ĐH, GS, nghiên cứu sinh...
Thí dụ, các đề mục
"có công trình công bố báo quốc tế", "có tham dự hội
nghị quốc tế", "được mời đi thuyết trình ở các ĐH quốc
tế" phải trở thành tiêu chí không thể không có của việc
xác định chất lượng GS, công nhận chức danh GS. Ở Bỉ, một công
trình công bố trong tạp chí quốc tế có ban biên tập quốc tế
thẩm định được chấm ba điểm, còn công trình công bố trong tạp
chí quốc nội chỉ được một điểm mà thôi. Cũng xin mở ngoặc là
chỉ những công trình công bố cách đây không quá năm năm mới có
giá trị!
Với đà tăng trưởng
hiện nay, Bộ GD-ĐT hay Bộ Khoa học-Công nghệ dần dần cần có
quỹ để tài trợ các nhà nghiên cứu có công trình công bố tại
các hội nghị quốc tế. Đây là tiền đầu tư cho chất lượng giảng
dạy và nghiên cứu của các nhà khoa học, cũng là tiền đầu tư
cho vai trò khoa học của Việt Nam trên trường quốc
tế.
Là nhà khoa học tại
Bỉ, tôi may mắn hoặc được mời, hoặc được chính phủ Bỉ tài trợ,
tạo điều kiện tham dự nhiều lần (trung bình mỗi năm hai lần)
các hội nghị khoa học quốc tế. Điều rất buồn là không thấy
bóng dáng người Việt đến từ Việt Nam những dịp này (nếu có,
chỉ là những Việt kiều công tác tại các ĐH Âu, Mỹ, Nhật,
Úc...). Tình trạng này đã kéo dài trên ba thập kỷ.
Trong những năm 1970, cũng rất hiếm có người Trung Quốc đến từ
Trung Quốc. Nhưng tháng 9/2004 vừa qua, được mời đi thuyết
trình tại hội nghị toàn cầu lần VI về Cơ học tính toán (Trung
Quốc đăng cai tổ chức), tôi đã là nhân chứng của sự đổi thay
vượt bậc. Trong tổng số 1.200 công bố khoa học, Trung Quốc đã
chiếm gần 400 bài, Mỹ và Nhật gần 300 bài, Hàn quốc gần 50
bài... Còn Việt Nam? Chỉ có hai!
Đánh giá chất lượng
một luận án tiến sĩ (TS) cũng cần có yếu tố quốc tế. Tại châu
Âu, hội đồng giám khảo một luận án TS hợp lệ phải có ít nhất
một GS đến từ một nước khác và một GS quốc nội đến từ một ĐH
khác. Nếu là luận án khoa học công nghệ thì bắt buộc phải có
đại diện của doanh nghiệp có công nghệ liên đới. Ngoài ra,
việc thâu nhận giảng viên mới ở các ĐH cũng phải theo một tiêu
chí đảm bảo được tính mới mẻ, tính quốc tế trong khâu nhân sự.
Phải hơn 50% là người đã bảo vệ bằng TS từ các ĐH khác với ĐH
sở tại. Tôi tự hỏi các ĐH Việt Nam chừng nào mới so sánh được
với các ĐH quốc tế khi thói “cha truyền con nối” đang hiện
hành khá phổ biến!
Cần có kế
hoạch trong việc đào tạo nhân tài bằng ngân sách nhà
nước
Việc đào tạo nhân tài,
gởi người đi học sau ĐH bằng ngân sách nhà nước cũng cần có kế
hoạch chiến lược dài hạn. Thí dụ, gửi SV đi làm TS về các
ngành kỹ thuật công nghệ, ta nên định hướng chọn nước,
chọn trường cho phù hợp, cho xứng với vốn liếng bỏ ra nhất là
từ công quỹ của một nước nghèo như nước ta. Chưa có liên
lạc được thì nên nhờ các nhà khoa học Việt kiều giới thiệu. Ta
phải học trực tiếp ở những nước, những trường có chất lượng
nổi tiếng, có học thuật tiên tiến, và như vậy cho từng ngành
từng môn. Thí dụ công nghệ thông tin nên đi Mỹ, công nghệ hàng
không nên đi Pháp hay Mỹ, công nghệ điện tử nên đi Nhật, công
nghệ đóng tàu nên đi Hàn Quốc... Dĩ nhiên là còn phải chọn
đúng trường, đúng thầy, đúng phòng thí nghiệm...
Tránh việc tốn tiền, tốn công mà chỉ đến nước thứ
hai, thứ ba, không học trực tiếp mà học lỏm, học những kỹ
thuật quá đát, được hướng dẫn bởi những thầy loại B, đã cằn
cỗi, lỗi thời! Ngoài ra, phải có phương pháp,
cách tổ chức để hạn chế tối đa rủi ro, nạn chảy máu chất
xám...
Mời các bạn
theo dõi tiếp Bài 2
trên VietNamNet: Cải tổ giáo dục: cần
có thời gian và lộ
trình
Các GS kỳ vọng gì với QH về
chấn hưng giáo dục?
(VietNamNet) - Từ Tokyo, Brussels,
Paris..., các GS Bùi Trọng
Liễu, Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Trương Nguyên Trân, Trần
Văn Thọ, Nguyễn Đăng Hưng... đã gửi về VietNamNet những kỳ vọng
với Quốc
hội khóa XI về chấn hưng giáo dục nước
nhà.
Kiến nghị của 23 trí thức về
chấn hưng giáo dục gửi Thủ tướng
(VietNamNet) - Từ tháng 2
đến tháng 9, nhóm 23 nhà khoa học, nhà giáo trong và ngoài
nước, dưới sự chủ trì của GS Hoàng Tuỵ, đã tiến hành xemina
thường kỳ bàn về Chấn hưng, cải cách, hiện đại hoá
giáo dục. Nội dung các buổi thảo luận đã được tập hợp thành
bản kiến nghị với 23 chữ ký gửi tới Thủ tướng Chính
phủ. Bản kiến nghị này
gồm ba phần. Phần đầu phân tích thực trạng của giáo dục để tìm
ra cái gốc các khó khăn và bất cập hiện nay. Phần thứ hai đề
xuất phương hướng hiện đại hoá giáo dục để khắc phục các khó
khăn và bất cập một cách cơ bản. Phần thứ ba trình bày một số
giải pháp cấp bách cần thực hiện để trả lại môi trường hoạt
động bình thường cho giáo dục, và mở đường chuyển dần sang cải
cách, hiện đại hoá toàn hệ thống.
Muốn chấn hưng giáo dục, cần
quyết tâm từ trên!
(VietNamNet)
- Trao đổi với chúng tôi, GS Hoàng Tuỵ nhận
xét: "Dù ông Bộ trưởng GD có thiện chí, muốn “quyết
liệt” cũng khó làm được gì mạnh. Trong tình hình hiện
nay, muốn chấn hưng giáo dục, cần có quyết tâm từ
trên".
Bàn tròn trực tuyến:Hà
Nội-Boston-Washington
(VietNamNet) -
Bàn tròn trực tuyến cùng ông Nguyễn An Ninh, cục
trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng Bộ GD-ĐT, bà Tôn
Nữ Thị Ninh, phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội, TS Vũ
Minh Khương, trường ĐH Harvard và ông Phạm Đức Trung Kiên,
giám đốc Quỹ Giáo dục VEF.
Chấn hưng giáo dục: Chữa
bệnh chứ không "buộc tội"
(VietNamNet) - Sáng 2/10, Bộ trưởng
GD-ĐT Nguyễn Minh Hiển đã dự buổi làm việc cuối cùng
trong khuôn khổ hội thảo thường kỳ về chấn hưng giáo dục do GS
Hoàng Tuỵ khởi xướng cùng 22 trí thức khác. "Thời điểm này
chính là thời cơ tốt để chúng ta tận dụng hết sức để tạo nên
sự thúc đẩy và bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng giáo dục",
nhiều ý kiến đã nêu như vậy tại buổi hội
thảo.
''Không nên có ấn tượng giáo
dục đang khủng hoảng!"
(VietNamNet)
-
"Giáo dục của ta có suy sụp đâu mà chấn hưng!" - GS TS Nguyễn
Lân Dũng đã nhìn nhận như vậy khi đánh giá những khó khăn hiện
nay của ngành giáo
dục. |