|
|
|
GS.TS Nguyễn Đăng Hưng đang trao đổi với PV Người
Viễn Xứ. |
Được tin ngày 28.03.2004, GS.TS Nguyễn Đăng Hưng từ Bỉ về
đến TP.HCM, chúng tôi liên lạc ngay với ông để xin một cái
hẹn. Một tuần sau, chúng tôi được ông tiếp tại văn phòng
(Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM), nhưng cũng chỉ đủ thời gian
cho việc thăm hỏi và vài ba câu chuyện… bên lề. Mãi đến chiều
14.04.2004 chúng tôi mới có dịp gặp lại ông tại Tòa soạn
Chuyên san Người Viễn Xứ, để thực hiện cuộc trao đổi này.
Trước khi bắt đầu cuộc trò chuyện, ông… thông báo: “Ngày mai
tôi sẽ phải đi Đà Nẵng, Huế và Hà Nội. Tôi ở đến 24.04 mới trở
lại TP. HCM. Sau đó ngày 26.04.2004 tôi sẽ lên đường qua Bỉ
”.
Từ nhiều năm nay,
ông – GS.TS Nguyễn Đăng Hưng đã dành không dưới 60%
quỹ thời gian của mình cho Việt Nam. Ông đi - về
giữa Bỉ và Việt Nam như con thoi: bình quân 4 chuyến một năm.
Và hầu hết thời gian ông ở Việt Nam là dành cho hai trường Đại
học Bách khoa tại TP.HCM và Hà Nội.
*
Thưa Giáo sư, hơn 40 năm sống ở nước ngoài, điều
gì làm ông trăn trở nhất mỗi khi chạnh lòng nhớ quê
hương?
-
Điều gì làm tôi trăn trở nhất khi chạnh lòng nhớ quê hương? 40
năm sống ở nước ngoài là hơn 2/3 đời người phiêu bạt ở xứ lạ
quê người… Phải nói trăn trở thì triền miên nhưng thời thanh
niên, thời tráng niên, và bây giờ đã trên sáu mươi rồi, mỗi
giai đoạn của cuộc đời mối trăn trở có khác… Thật vậy, 40 năm
qua, đất nuớc chúng ta đã trải qua biết bao dâu bể thăng trầm,
cục diện thế giới cũng có rất nhiều xáo trộn, đổi thay… Câu
hỏi của anh cần cả một thiên hồi ký gồm nhiều chương sách… Tôi
lại có một tuổi ấu thơ khá bất hạnh vì sinh ra là lớn lên tại
miền Trung xứ Quảng sớm mồ côi mẹ, bị thất học, bị chiến tranh
tàn phá ác liệt cướp đi bao nhiêu người thân, bao nhiêu ước
mơ… Có lẽ vì số phận khá đặc biệt này mà nỗi trăn trở của tôi
về đất nước thường day dứt khôn nguôi, chuyển biến qua thời
gian, theo diễn tiến của thời cuộc...
*
Giáo sư là người “gắn” khá chặt với quê hương -
đặc biệt khi ông đã được xem là
người-thành-đạt…
|
| GS
Hưng (đội mũ) và các đồng nghiệp Việt Nam trong chuyến
công tác tại miền
Trung. |
- Nếu gắn cuộc đời của tôi với các mốc lịch
sử của đất nước mình, tôi có thể tóm lược như sau: giai đoạn
thanh niên của tôi (từ năm 1960-75) là cuộc chiến tại Việt
Nam. Giai đoạn tráng niên (từ năm 1976-90) là những bất cập
của những chính sách bao cấp trong giai đoạn tiền đổi mới, và
trong giai đoạn đất nước mở cửa là ý thức trách nhiệm của một
nhà khoa học, một giáo sư đại học - sinh ra và lớn lên tại một
vùng đất kham khổ, lam lũ, có quê hương là một đất nước bị
chiến tranh tàn phá khủng khiếp, tự đặt cho mình nỗi trăn trở:
làm thế nào giúp đất nước đi nhanh đặc biệt trong những lĩnh
vực chuyên môn của mình...
Thời còn là sinh viên, ở
những năm đầu đại học, báo chí phương Tây khi đưa tin về chiến
tranh Việt Nam đã ảnh hưởng không ít đến tư duy của tôi - một
người Việt xa xứ. Lúc ấy, tôi cũng đã bắt đầu ý thức đến hiểm
họa của một cuộc chiến khốc liệt sẽ gây ra đau thương tang tóc
cho đồng bào trong nước. Tôi nhớ lúc ấy tôi đã từng
viết:
Tôi thấy mình còn chưa
biết,
Bên trời mưa gió làm
sao
Cả
triệu linh hồn hủy diệt
Một thân lệ nuốt chưa
vào!
(Bên trời,
1963)
Sau
này, diễn tiến của cuộc chiến có khác, nỗi trăn trở trong tôi
cũng đổi thay. Lúc ấy tôi đã bày tỏ những suy nghĩ của mình về
một giấc mơ hồi hương:
Những ngày đất nước
bão giông
Ra
đi canh cánh trong lòng trời mây
Tin về gói trọn vòng
tay
Tháng năm phiêu bạc
một ngày đoàn viên
Cũng vì thao thức
triền miên
Ngồi đây tiếng súng
bưng biền vọng sang...
(Hoài hương,
1973)
Nước nhà thống nhất, hòa
bình vãn hồi là lúc tôi bước vào tuổi tráng niên. Tôi đã là
giảng viên đại học, đang thực hiện những công trình nghiên cứu
khoa học trong giai đoạn sung mãn nhất.
* Được biết,
Giáo sư đã trở về nước rất sớm…
-
Vâng, tôi đã có mặt tại Việt Nam ngay từ những năm 1976, 1977,
1979, mặc dù lúc ấy điều kiện đi lại còn khó khăn. Lúc đó tôi
đã có ý định hồi hương, chuẩn bị cho việc góp một phần rất
khiêm tốn của mình vào công cuộc kiến thiết đất
nước...
* Thế nhưng
điều gì đã xảy ra sau đó?
|
|
Lễ
phát bằng Chương trình đào tạo cao học Châu Âu (khóa 2)
tại TP.HCM |
- Sau một thời gian khảo sát, tìm hiểu tình
hình Việt Nam, mắt thấy tai nghe, cũng như đông đảo Việt kiều
có điều kiện "đi thực tế", tôi lại có những trăn trở không ngờ
trước được... Tôi đã ghi lại những cảm nghĩ này sau chuyến
tham quan Việt Nam năm 1979 trong một bài bút ký và mười năm
sau đó mới gởi cho một tờ báo Việt kiều bên Pháp:
"Lên sân bay Tân Sơn
Nhất, tôi nhìn lại gia đình, bè bạn đi đưa, nhìn những ánh mắt
đăm chiêu, những gương mặt hốc hác, lòng tôi như có gì ảm đạm,
xót xa hơn những chuyến trước. Tôi thấy càng ngày càng xa ra.
Một giới tuyến vô hình nhưng vô cùng kiên cố đã được dựng lên
giữa họ và tôi. Phải qua thời gian tôi mới nhận diện ra nó một
cách chắc chắn. Kỹ thuật đông lạnh tinh vi nào đã hình thành
những khối băng khổng lồ vĩnh cửu, co cứng lại ngay trong vùng
nhiệt đới! Tôi cố bào chữa, nghĩ đến chiến tranh tàn phá, cán
bộ tiêu hao, nhưng vẫn thấy toát ra những điều nghịch lý của
một cơn ác mộng..."
(“Bút ký của một nhà khoa
học Việt Kiều”, báo Đoàn Kết số 418, Paris, 1989).
* Còn sau đó
nữa…, điều gì đã lại làm cho ông “chuyển hướng”về quyết định
gắn-bó-với-quê-nhà, thưa Giáo sư?
-
Và từ những trăn trở như tôi đã nói ở trên, chính là động cơ
để tôi tham gia ký “Tâm thư” gởi về lãnh đạo Việt Nam, tham
gia thảo kiến nghị gởi về Đảng Cộng sản Việt Nam vào thời kỳ
đất nước còn trong giai đoạn bao cấp.
Tuy
nhiên, phải đợi sau Đại hội Đảng lần VI, khi những chính sách
đổi mới bắt đầu rõ nét, phải đến những năm tháng của thập niên
90 (thế kỷ XX), tôi mới tìm được những điều kiện để có thể
thực hiện phần nào những hoài bão của một người Việt sống xa
xứ - nhưng luôn luôn quan tâm đến công cuộc phát triển đất
nước... Những trăn trở của thời mở cửa, của giai đoạn hội nhập
lại càng day dứt hơn, nhưng tôi quyết định lao vào những việc
cụ thể, thực hiện nhanh chóng những gì trong tầm tay. Thời
gian không chờ đợi tôi nữa, tuổi về hưu đã cận kề... Tôi gác
qua một bên những suy tư trăn trở và âm thầm, cần
mẫn như một con ong, gầy dựng cho tới ngày nay những
Trung tâm đào tạo cao học mà anh biết...
* Theo Giáo
sư, giữa cái nghèo nàn, lạc hậu và sự sút kém, tụt hậu về nền
tri thức của một dân tộc thì đâu là nguyên nhân, đâu là kết
quả?
-
Đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả của sự sút kém, tụt hậu của
dân tộc ta? Anh lại đặt cho tôi một câu hỏi lớn! Trả lời câu
hỏi này cần một thế hệ những nhà sử học nghiêm túc, cần thời
gian nghiên cứu thâm sâu, nhất là cần những con người có tâm
có lực, có lòng quả cảm, biết nhìn thẳng vào sự thực để phê
phán lịch sử… Tôi lại chỉ là một kỹ sư, một nhà giáo, một
chuyên gia về một lãnh vực công nghệ, quanh năm suốt tháng tất
bật chung quanh “các vết nứt của vật thể”, sự tồn vong của
“các cấu trúc phức tạp”, chung quanh các chương trình “tính
toán vạn năng”… (những công trình nghiên cứu và ứng dụng của
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng – TG). Nói vậy, nhưng không
vì thế mà tôi trốn tránh trả lời câu hỏi bức thiết này. Dĩ
nhiên là câu trả lời của tôi chỉ có một giá trị tương đối mà
thôi…
Hậu
quả thì ai cũng thấy thôi, đại đa số người Việt chúng ta ngay
cả những người Việt định cư tại hải ngoại là nạn nhân của tình
trạng này… Nhưng nguyên nhân ở đâu?
Để
thấu triệt các nguyên nhân này tôi xin đặt ngược câu hỏi, rồi
thử soi sáng vấn đề theo dòng lịch sử của dân tộc Việt: vì
những lý do gì và ở thời nào dân tộc Việt đã tạo được cho mình
chỗ đứng tiên tiến, đã biến nước ta thành cường quốc tại Đông
Á một thời?
|
| Các tân thạc sĩ Việt Nam (qua "cầu nối" của GS.TS
Nguyễn Đăng Hưng) |
Theo chỗ hiểu biết khiêm tốn của tôi, nếu
cương vực dân tộc Việt cổ đã được xác định từ lâu, phải đợi
đến thời Lý, văn hiến của dân tộc Việt mới bắt đầu được khẳng
định. Tôi nghĩ đến “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, đến “Tuyên
ngôn độc lập” của Lý Thường Kiệt trên bờ sông Như Nguyệt, đến
việc xây dựng Văn Miếu, đến sự quan tâm trọng dụng hiền tài
của các vị anh quân thời bấy giờ… Chính nhờ tri thức chân
chính được lên ngôi mà Đại Việt đã hình thành được một xã hội
đồng thuận, nắm bắt được những kỹ thuật tiên tiến nhất thời
bấy giờ… Ta biết, sau cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài mười
năm giải phóng dân tộc Việt ra khỏi ách đô hộ nhà Minh, sau
một thời nội bộ triều đình thiếu ổn định, phải đợi đến vị anh
quân trí thức Lê Thánh Tôn lên ngôi mới giải oan cho bậc trí
thức anh hùng Nguyễn Trãi, xây dựng nền thịnh trị kéo dài ngót
40 năm. Và chính giai đoạn này Đại Việt mới trở thành cường
quốc tại Đông Nam Á.
Ngược lại những giai đoạn
trí thức chân chính bị bạc đãi, nho sĩ cơ hội cầm quyền thì
đất nuớc suy vong tụt hậu. Tôi nghĩ đến thời Tự Đức, đến bản
Điều trần tâm huyết của nhà yêu nước Nguyễn Tường Tộ. Thời bấy
giờ triều đình không ai có quyền có thế, có tri thức để giúp
vua thoát ly ra khỏi tư duy lạc hậu, lấy phong kiến Trung Quốc
làm mẫu mực… Người Nhật đã có được một tầng lớp sĩ phu chân
chính, đã đánh giá chính xác thời cuộc thế giới và đã giúp cho
Nhật Hoàng đưa nước Nhật lên đài vinh quang mà ai cũng biết.
Và
như vậy theo tôi, sự tụt hậu phát xuất không những từ yếu tố
khách quan: sau một gian dài chiến tranh, sinh lực dân tộc
tiêu hao cùng cực, mà quan trọng hơn, những yếu tố chủ quan:
ta bỏ lỡ nhiều dịp tạo đồng thuận xã hội, ta đã đánh mất nhiều
cơ hội lịch sử vươn lên phát triển, ta đã chưa tận dụng đúng
mức vốn tri thức chân chính sẵn có của dân tộc, trong đó có
chất xám Việt kiều...
May
thay trong những năm gần đây của thời mở cửa, xu thế hội nhập
ngày càng sáng tỏ, hướng đi lên ngày càng rõ nét... Tôi có cảm
tưởng nguy cơ tụt hậu dần dần được đẩy lùi... Nhưng theo tôi,
cần phải nỗ lực gấp bội mới xóa bỏ được tư duy bao cấp vẫn còn
tiềm tàng ở mọi cấp mọi nơi, cần phải cải cách, đổi mới quyết
liệt hơn nữa mới mong bắt kịp các nước lân bang.
* Từ năm 1977
đến nay, Giáo sư đã trực tiếp tham gia, tạo “chiếc cầu nối”
cho không ít sinh viên và các nhà khoa học Việt Nam được có
điều kiện học tập, bồi dưỡng kiến thức ở nước ngoài và cụ thể
là đã tạo điều kiện cho không ít người trở thành những Thạc
sĩ, Tiến sĩ. Giáo sư có thể giới thiệu sơ lược về vai trò “cầu
nối” ấy? Xuất phát từ động cơ nào Giáo sư đã làm điều ấy từ
suốt 27 năm qua?
|
|
GS
Hưng (thứ 3, hàng trên từ trái sang) và GS Trần Văn
Khê (thứ 3, từ phải sang) trong đợt Triển lãm Văn hóa
Việt Nam tại Brussels (Bỉ) năm
2002. |
- Như tôi đã nói ở trên, tuổi ấu thơ tôi có
nhiều nỗi bất hạnh vì chiến tranh và vì nhiều may mắn tôi đã
phải học “nhảy”, đuổi bắt cho kịp với thời gian mà mình đã
mất, vượt qua được những rào cản, được học bổng của chính phủ
Bỉ xuất dương du học từ năm 1960. Được dịp về thăm đất nước
sau ngày hòa bình tái lập, tôi có dịp chứng kiến tình trạng cơ
cực của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Nhìn em bé đánh giày
ngoài phố, em bé chăn trâu ở đồng quê, tôi như tìm lại chính
tôi ngày xưa... Và từ ấy tôi đã tự nói với bản thân, với bất
cứ giá nào phải làm được một điều gì đó cụ thể và hữu ích cho
đất nước...
Tôi
vốn thích những gì cụ thể, tôi bắt đầu bằng những gì trong tầm
tay, thực hiện những dự án nho nhỏ, để một mặt tạo niềm tin
cho chính mình, đồng thời tạo lòng tin nơi các cấp chính quyền
hai bên (Việt Nam và Bỉ), rồi dần triển khai những dự án dài
hơi, tầm cỡ...
Khi
lựa chọn cho mình vai trò "chiếc cầu nối”, tôi cũng đã chọn
con đường thực tế và hữu hiệu, có tính khả thi cao để giúp
Việt Nam phát triển. Tôi trộm nghĩ, đào tạo chuyên gia, bồi
dưỡng kiến thức của các giáo chức đại học, tạo dựng đội ngũ
nghiên cứu sinh, tạo điều kiện chuyển giao công nghệ tiên
tiến, tổ chức du học tại chỗ... là góp phần nhỏ cho tương lai
dân tộc Việt. May thay, tôi có nghiệp vụ ổn định tại một
nước có công nghệ phát triển, tôi được dịp tiếp cận với khoa
học quốc tế, tôi có kinh nghiệm hợp tác phát triển và nhất là
tôi có thói quen tổ chức, quản lý và thực hiện các dự án tại
địa bàn châu Âu.
Hình thành các chương
trình đào tạo thạc sĩ quốc tế tại chỗ trong thời buổi rất khó
khăn, tôi muốn trong điều kiện cho phép và riêng trong lĩnh
vực chuyên môn của tôi, đáp ứng một phần những nhu cầu khẩn
thiết của các đại học và cơ sở công nghệ Việt Nam: khan hiếm
nghiên cứu sinh và giảng viên giảng dạy có trình độ tiên tiến
Âu-Mỹ, thiếu thiết bị, sách vở tài liệu tham khảo hiện đại và
nhất là đang loay hoay đi tìm hướng đi thích hợp cho việc đào
tạo bậc cao học...
* Nói thì nghe
có vẻ dễ dàng, nhưng thực tế thì chắc là không hề đơn giản.
Phải thế không, thưa Giáo sư?
|
| "Tại Việt Nam tôi chỉ hành động theo những gì mà
trái tim tôi mách
bảo...” |
- Thực hiện một chương trình đào tạo quốc tế
tại Việt Nam trong thời điểm ấy giờ là cả một vấn đề phức tạp.
Câu hỏi của anh làm tôi nhớ đến những năm đầu của thập kỷ 90,
lúc tôi bắt đầu triển khai các dự án du học tại chỗ, trong một
bối cảnh hoàn toàn khác với hôm nay. Một cán bộ an ninh thành
phố đã có lần gọi tôi lên đặt một câu hỏi: Đâu là ý đồ, là
động cơ khi ông hăm hở về Việt Nam khá thường xuyên, để thuyết
trình khoa học, tổ chức seminar, tổ chức du học tại chỗ? Tôi
đã trả lời: “Ông là công an, ông có tất cả những phương tiện
để kiểm tra, theo dõi và phát hiện những ý đồ (nếu có) của
tôi. Nhưng theo tôi, xin ông không nên tốn nhiều công sức, vì
tại Việt Nam tôi chỉ hành động theo những gì mà trái tim tôi
mách bảo...”.
* Hiện nay Bộ
Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) đang nỗ lực tham khảo các giáo sư,
các lãnh đạo đại học để chuẩn bị cho những cải tổ. Giáo sư có
nhận xét gì về giáo dục đại học (GDĐH) ở Việt nam và có đề
nghị gì cho việc cải tổ?
-
Đây lại là một câu hỏi lớn. Là người đã lăn lộn tại Việt Nam
trên hơn hai thập niên, đã thực hiện một số chương trình hợp
tác quốc tế, du học tại chỗ với nhiều trường ĐH tại Việt Nam,
đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tôi không thể
không có những nhận xét cá nhân và những đề nghị cụ thể. Tuy
nhiên, vấn đề này cần thêm thời gian và giấy mực, tôi xin khất
với nhà báo và xin hẹn một buổi khác. Nay tôi xin chỉ nói
nhanh những ý chính:
1.
Những lợi thế về GD-ĐT của Việt Nam trong thời bao cấp (Việt
Nam là một trong những nước đang phát triển, đã nhanh chóng
thanh toán nạn mù chữ) đã trở thành những chướng ngại to lớn
trong thời mở cửa! Việt Nam không thể thực hiện có hiệu quả
việc cải tổ nền giáo dục - đặc biệt là giáo dục đại học, nếu
không dứt khoát loại bỏ tư duy lỗi thời coi trọng lượng hơn
phẩm, chạy theo thành tích, chạy theo con số, coi trọng hư
danh hơn thực học, chạy theo bằng cấp...
2.
Việc trì trệ, tụt hậu trầm trọng của nền giáo dục, phát xuất
từ những sự chệch hướng sai lầm đã bắt đầu từ nhiều thập niên.
Việc chấn chỉnh đòi hỏi một quyết tâm cao độ, một lộ trình ít
nhất mười năm, nhất là ở những quyết định triệt để từ cấp cao
nhất của chính quyền.
3.
Việc chấn chỉnh nền giáo dục Việt Nam cần thời gian nghiên cứu
cặn kẽ các nền giáo dục hiện hành thành công ở các nước tiên
tiến, cần lắng nghe ý kiến đa chiều và nhất là cách thức,
phương pháp, hành xử của các khâu thực hiện của các bậc thức
giả, các chuyên gia, các giáo chức quốc tế, đã có quá trình cọ
xát thực tiễn, đã có kinh nghiệm nghề nghiệp tại các nước tiên
tiến.
Tôi
sẽ phát triển thêm những ý kiến này, nhất là đưa ra những đề
đạt cụ thể trong một dịp khác, dài hơi hơn...
* Cái “tài”
của người trí thức, đất nước nào cũng cần. Thế theo Giáo sư,
cái “đức” của họ có quan trọng không? Hay chỉ cần “tài” là đủ?
|
| "Không có nguy cơ tụt hậu nào nguy hiểm hơn nguy
cơ suy đồi đạo đức" |
- Người có tài mà không có đức là những ánh
sao băng. Người tài đức vẹn toàn mới là những ánh sao lung
linh trên bầu trời trăng sáng... Quan điểm của tôi về chữ
“Đức” thì cũng rất cổ điển thôi... Không có lương tâm soi sáng
cho hành động thì đạo đức bị xói mòn... Vấn đề của một nước
đang phát triển như Việt Nam, theo tôi, là phải làm sao giữ
được và đưa lên được đúng chỗ, đúng cương vị người tài đức để
bầu trời bớt nhá nhem, để vàng thau không lẫn lộn... Đôi khi,
tôi không thể không bức xúc, xót xa khi thấy những hành vi
thiếu đạo đức lại trở thành quá bình thường, nhan nhản trong
xã hội... Không có nguy cơ tụt hậu nào nguy hiểm hơn nguy cơ
suy đồi đạo đức. Thật đáng sợ, khi người ta coi việc mua bằng,
việc học dỏm là chuyện cơm bữa; người ta xem việc sao chép,
đạo văn, đạo nhạc như chuyện kiếm sống nên làm; người ta cắt
xén công quỹ nhà nước như đi hái trái chín ngoài cây, đi gặt
lúa ngoài đồng (!?). Ở điểm này vai trò hướng thiện, vạch ra
trước công luận cái xấu, cái ác, bảo vệ cái tốt, cái hay, cái
đẹp, cái đạo đức của báo chí, của các anh là vô cùng khẩn
thiết và quý giá...
* Nhiều năm
sống và làm việc ở nước ngoài; Giáo sư có nhận xét gì về những
người Việt Nam sống xa xứ? Việt kiều mình có những khác biệt
gì cơ bản so với các kiều dân khác trên thế
giới?
-
Đã một thời không xa, mảnh đất Việt Nam là địa bàn liên tiếp
của hai cuộc chiến tranh thảm khốc vào bậc nhất của lịch sử
loài người. Là người Việt Nam, nhất là ở lứa tuổi chúng tôi,
ít có ai không mất mát, không tan tác vì chia cắt, vì dâu
biển, vì chia ly... Chủ quyền vào tay ngoại bang trong một
thời gian rất dài, chiến tranh lạnh, chiến tranh cục bộ, máu
thịt tan tác... Người Việt chúng ta đã phải gánh chịu tất cả
những điêu linh ấy của giai đoạn lịch sử thế giới phân cực, mà
ý đồ thôn tính đã bất chấp quyền lợi và số phận của một dân
tộc vốn hiếu khách, cởi mở và nhất là nhân nghĩa và đạo lý...
Tôi có cảm tưởng người Việt sinh sống ở hải ngại thuộc thế hệ
chúng tôi khác với các dân tộc khác, cũng vì hoàn cảnh đau
thương cá biệt này... Thế hệ thứ hai, thứ ba có khác nhưng lại
ít gắn bó hơn với quê hương hơn thế hệ cha ông...
Một
điểm khác, tích cực hơn, là ít có dân tộc nào hiếu học bằng
dân tộc Việt Nam. Gia đình nào, kinh tế khiêm tốn cách mấy đi
nữa cũng tạo điều kiện cho con cháu đi học, đỗ đạt thành
tài... Mà trong việc học, người Việt lại tiếp thu nhanh, trong
thời gian ngắn vươn lên nắm bắt những bí quyết khoa học công
nghệ tiên tiến nhất...
Chất xanh trong tay người
Việt xa xứ so với các dân tộc khác, có lẽ khiêm tốn hơn, nhưng
chất xám thì có thế nói là rất phong phú dồi dào...
* Suốt buổi,
chúng ta đã đề cập khá nhiều đến chuyện đất nước, chuyện dân
tộc… Vậy, Giáo sư có thể giới thiệu đôi nét về
chuyện-gia-đình?
|
| GS
Hưng cùng phu nhân và cậu con trai 9
tuổi. |
- Gia đình lớn của tôi như anh đã biết có
nhiều bất hạnh, tan tác vì chiến tranh... Gia đình nhỏ của
tôi, được bình yên hơn tại trời Âu... Các con lớn của tôi đều
học hành đến nơi đến chốn, đều tốt nghiệp đại học, có nghiệp
vụ ổn định và nên vợ nên chồng, có con có cái, êm ấm thuận
hòa... Tôi chỉ còn phải lo cho cậu con út nay mới 9 tuổi...
Người bạn đời hiện nay của tôi là người phụ nữ Việt Nam tôi đã
gặp ngày mồng một Tết khi cô ấy đi dâng hương tại lăng Ông Bà
Chiểu. Có lẽ, vì cái duyên kỳ ngộ này mà chúng tôi sống với
nhau rất hạnh phúc. Người phụ nữ ấy, chẳng những là nguồn cảm
hứng cho những việc hằng ngày của tôi mà là một trợ lý rất đắt
lực, nhất là những gì tôi làm cho Việt Nam...
Nếu
được, xin anh chuyển hộ mấy câu đầu bài thơ tôi làm tặng
vợ:
Không em đời sẽ ra
sao?
Buổi đầu gặp gỡ như
vào thời gian Phút giây dừng lại phím đàn
Không em héo úa như
ngàn rừng thiêu
Không em héo hắt con
tim
Có
chăng thì chỉ nỗi niềm vu vơ
Gặp em nào có ai
ngờ
Anh như hiểu được bến
bờ thế nhân...
* Ước nguyện
cuối đời của Giáo sư là gì?
-
Có sức khoẻ và còn thêm một đoạn ngắn nữa của quỹ thời gian để
làm thêm một ít việc cần làm... Có điều kiện để thực hiện vài
giấc mơ nho nhỏ của thời niên thiếu... Tôi mong mỏi sống lại
thuở ấu thơ bên dòng suối nhỏ, có nước chảy róc rách trong
buổi trưa hè hay được thường xuyên nằm nghe trước khi chợp mắt
– giai điệu bất tận phát ra từ thuở hoang sơ, tiếng rì rào của
sóng biển ngày đêm vỗ về cát trắng...
* Xin cảm ơn
Giáo sư đã dành thời gian cho buổi trao đổi hôm
nay.
TRƯỜNG KIÊN thực
hiện
|