LTS:
Được mệnh danh là người "tiếp thị" chất xám Việt Nam, người "chở" chất xám
về Việt Nam, người "đi t́m" tiến sĩ cho Việt Nam v́ đă và đang thực hiện
các chương tŕnh đào tạo thạc sĩ Bỉ - Việt tại các Đại học (ĐH) Bách khoa
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, ...
chương tŕnh 50 tiến sĩ bằng học
bổng quốc gia, là một nhà giáo, nhà khoa học
giảng dạy ở những trường ĐH danh
tiếng trên thế giới, am hiểu về hệ
thống giáo dục của các nước tiên
tiến, nắm bắt tường tận về
nền giáo dục – đào tạo của Việt
Nam, giáo sư tiến sĩ khoa học Nguyễn
Đăng Hưng đă có những đề nghị
cụ thể sau đây về những vấn đề
rất thời sự hiện nay cho ngành giáo dục nước
ta.
Đổi mới tư duy theo tôi
trước hết là đoạn tuyệt với
lề lối tập trung quan liêu, nói nôm na là thói
quen ôm đồm, cái ǵ cũng muốn nắm, cái ǵ
cũng muốn quản lư mà không có khả năng, tài
lực, không có phương pháp, gây trở ngại
cho nền giáo dục quốc dân... Lănh đạo và
quản lư tốt phải đồng nghĩa với
phục vụ tốt. Phục vụ muốn có
hiệu quả th́ phải mở cơ chế cho
thật thoáng để tăng cường khả năng
phục vụ. Đây là nguyên tắc làm việc
của các nước tiên tiến có tŕnh độ
phát triển cao. Việc đổi mới thể
hiện ở những điểm sau:
Cần nhanh chóng trao
quyền tự quản cho các trường đại
học
Quyền tự quản này bao
gồm quyền tuyển sinh, cấp bằng, quản lư
và bổ nhiệm nhân sự, tổ chức và kế
hoạch giảng dạy, nghiên cứu khoa học...
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) chỉ
dừng lại ở quản lư khung: ngân sách (phần
nhà nước rót về trường, như thế dĩ
nhiên gián tiếp chi phối việc bổ nhiệm nhân
sự), chương tŕnh học (bất cứ trường
nào cũng phải tuân thủ chương tŕnh
học do Bộ đề ra), chế độ mức
lương tối thiểu, chức danh, học hàm, tài
trợ những hướng phát triển trọng
điểm, cho học bổng sinh viên nghèo, hỗ
trợ sinh viên vùng sâu vùng xa...), thanh tra giám sát,
hiệp thương hợp tác quốc tế trên b́nh
diện vĩ mô...
Cần phân luồng, phân
tầng trong việc tổ chức giáo dục
Việc này cần bắt đầu
từ bậc trung học. Tại Việt Nam c̣n quá ít
các trường cao đẳng (CĐ), trường
chuyên nghề, đặc biệt các trường
kỹ thuật công nghệ với thời gian đào
tạo ngắn hạn. Hiện nay tâm lư phụ huynh là
coi thường CĐ. Nhưng tâm lư này sẽ
được khắc phục nếu các trường
CĐ gắn bó với các doanh nghiệp trong quá tŕnh
đào tạo, cơ chế liên thông rơ ràng minh
bạch, nếu các trường tiếng tăm có
quyết tâm tham gia thực hiện cơ chế này.
Phụ huynh nào lại chả muốn con ḿnh nhanh chóng
có việc làm giúp kinh tế gia đ́nh, nếu con em ḿnh
sau vài năm học CĐ, năng khiếu lộ rơ
qua kết quả cụ thể, được xét
tuyển vào các trường lớn để đi xa
hơn.
Nên mềm đầu vào và
cứng đầu ra
Các trường ĐH phương
Tây không tổ chức đào tạo như cái
ống, mà đào tạo theo h́nh chóp, họ áp
dụng nguyên tắc chủ đạo sau đây:
"Chỉ cấp bằng cho những người
đạt tŕnh độ". Họ quan niệm là
cấp bằng cho người không đạt tŕnh
độ là chẳng những làm hư hại xă
hội mà trước tiên làm hư hại chính người
được cấp bằng. Bởi vậy thông thường
đầu vào th́ đông nhưng đầu ra không
nhiều. Học viên hai năm đầu bị đánh
rớt rất đông, cấm thi lại quá bốn
lần. Như vậy, các em có điều kiện
nhanh chóng đổi ngành, chuyển qua CĐ, cho phù
hợp với khả năng của ḿnh, không mất
thời gian, gây hao tốn cho xă hội và gia đ́nh.
Không cần phải tổ
chức thi tuyển ĐH nặng nề như hiện
nay tại Việt Nam mà chỉ cần xét tuyển
nhẹ nhàng qua quá tŕnh học vấn cấp tú tài.
Nếu cần xác định rơ hơn về tŕnh
độ th́ nên tổ chức phỏng vấn
trực tiếp để loại bỏ những
học viên có hồ sơ với độ tin cậy
thấp.
Hệ luận này kéo theo
một hệ luận khác là phải tổ chức
lại một cách nghiêm chỉnh hơn các kỳ thi tú
tài ở trung học. Thi tú tài là xác định tŕnh
độ năng khiếu bậc trung học của
học sinh. Việc xác định này cần
được tổ chức chu đáo và đồng
khắp, trong đó tính khách quan và công bằng
phải được đảm bảo... Phải xóa
bỏ tận gốc thói quen hay bắt gặp tại
Việt Nam: ai cũng tiên tiến. Thói quen này có
lẽ xuất phát từ chỗ thiếu tự tin,
ngại chịu trách nhiệm, không dám đánh
rớt.
Tổ chức giáo dục
cần hướng tới tri thức quốc tế
Hướng tới tri thức
thế giới trước hết là phải giỏi
ngoại ngữ. Một nước trung b́nh như
Việt Nam để nuôi dưỡng hiểu biết
ngang tầm thế giới cần phải thông
thạo mỗi người hai ngoại ngữ. Tôi
muốn nhấn mạnh ở chữ thông thạo
chứ hiểu biết sơ sài như tŕnh độ
các sinh viên tốt nghiệp ĐH hiện nay tại
Việt Nam th́ chưa thấm vào đâu. Muốn
vậy cần tổ chức dạy ngoại ngữ
ngay ở cấp tiểu học. Việc tiếp thu
ngoại ngữ ở cấp trung học sẽ
chậm hơn, lên đến ĐH th́ đă quá
muộn.
Hướng tới tri thức
thế giới hiện nay ta đă có một phương
tiện hữu hiệu vô song: Internet. Việc mở
rộng sử dụng Internet, công nghệ thông tin là
khâu quyết định cho việc cập nhật tri
thức mới mẻ, hiện đại... Vấn
đề ở đây là tổ chức việc
mở rộng ở tầm mức quốc gia v́ điều
kiện kinh tế c̣n giới hạn của ta. Thí
dụ các ĐH Việt Nam đang ở trong t́nh
trạng vô cùng thiếu thốn tài liệu, sách,
tạp chí khoa học cần thiết cho việc nghiên
cứu. Lẽ ra Bộ GD-ĐT nên thương lượng
với các nhà xuất bản để sinh viên, nghiên
cứu sinh Việt Nam, thông qua mật khẩu, có
thể vào các trang web của các nhà xuất
bản tiếng tăm, tham khảo những tài
liệu đă xuất bản như các nước tiên
tiến đă làm lâu nay.
Yếu tố quốc tế
cần trở thành tiêu chí căn bản trong việc
đánh giá chất lượng các trường đại
học, giáo sư, nghiên cứu sinh...
Thí dụ các đề mục
"có công tŕnh công bố ở tạp chí quốc
tế", "có tham dự hội nghị quốc
tế", "được mời đi thuyết
tŕnh ở các ĐH quốc tế" phải trở
thành tiêu chí bắt buộc của việc xác định
chất lượng giáo sư, của việc trao
tặng chức danh giáo sư. Ở Bỉ, một công
tŕnh công bố trong tạp chí quốc tế có ban biên
tập quốc tế thẩm định được
chấm ba điểm. Một công tŕnh công bố trong
tạp chí quốc nội chỉ được
một điểm mà thôi. Cũng xin mở ngoặc là
chỉ những công tŕnh công bố cách đây không
quá 5 năm mới có giá trị! Thử hỏi các giáo
tŕnh đang được giảng dạy tại
Việt Nam ở các ĐH đă viết ra được
bao nhiêu năm rồi?
Đánh giá chất lượng
một luận án tiến sĩ (TS) cũng cần có
yếu tố quốc tế. Tại châu Âu, hội
đồng giám khảo một luận án TS hợp
lệ phải có ít nhất một giáo sư quốc
tế (đến từ một nước khác) và
một giáo sư quốc nội đến từ
một ĐH khác. Nếu là luận án khoa học công
nghệ th́ bắt buộc phải có đại
diện của doanh nghiệp có công nghệ liên đới.
Ngoài ra, việc thâu nhận giảng viên mới ở
các ĐH cũng phải theo một tiêu chí đảm
bảo được tính mới mẻ, tính quốc
tế trong khâu nhân sự. Phải hơn 50% là người
đă bảo vệ bằng TS từ các ĐH khác
với ĐH sở tại.
Chuyên tu và tại chức
Theo tôi, ta nên loại bỏ
việc cấp bằng cho các khóa chuyên tu, tại
chức. Tôi không bài bác ư kiến phải luôn luôn
học tập. Tôi hoan nghênh việc mở những
lớp bổ túc, những lớp học cộng đồng
để cho mọi công dân, ở bất cứ độ
tuổi nào, ngay cả khi đă về hưu, cũng có
thể tiếp tục học tập, trau dồi
kiến thức để sống vui và giúp ích cho xă
hội. Nhưng không nên cấp bằng tại
chức, trên thực tế đă được dùng
tương đương như chính quy, tuy giáo tŕnh
cũng như thời gian theo học không đủ
chuẩn. Chính điều đó đă biến một
số quan chức thành người đi mua bằng,
biến một số giáo chức vô t́nh hay hữu ư
thành người đi bán bằng. Tệ hại
nhất là việc này đă gây hoang mang trong xă
hội, nhất là khiến cho con em chúng ta bị tác
động theo hướng tiêu cực. Bởi học
làm ǵ khi bỏ công sức phấn đấu dài
hạn mà chắc ǵ có chỗ vươn lên. Các
vị có bằng tại chức chiếm chỗ
hết rồi! Đó là lời tôi nghe được
từ các em sinh viên.
Ta chỉ nên cấp chứng
chỉ cho những khóa học tại chức chứ
không cấp bằng. Nếu thực hiện được
điều này th́ sẽ có một đổi mới
trong suy nghĩ chung của nhà giáo và người đi
học. Và những người muốn có bằng
dởm sẽ phải suy nghĩ lại và không
chạy theo bằng cấp nữa. Như vậy ta
sẽ có một sự thay đổi đáng kể mà
không tốn kém ǵ cả.
Giáo dục có là hàng hóa?
Việt Nam đang có nhiều
tranh căi về giáo dục và thị trường. Giáo
dục phải chăng là hàng hóa?
Tại Mỹ, Canada – các nước
có nhiều trường ĐH tư phát triển
sớm và có lẽ quy mô nhất thế giới, tuy có
đến 50% ĐH tư nhưng chỉ chiếm lĩnh
20% sinh viên toàn nước. Các sinh viên c̣n lại
phải theo học trường công của các bang hay
liên bang. Ở nước thị trường là vua như
nước Mỹ, là nền kinh tế lớn nhất
thế giới, có các đại gia tài phiệt
thống lĩnh toàn cầu, mà dịch vụ này
chỉ cung ứng có thế thôi th́ hàng hóa này
quả là đặc biệt!
Tại những nước có
tŕnh độ phát triển cao nhất thế
giới, có nền kinh tế thị trường liên
tục từ ngày lập nước tới nay, mà GD-ĐT
gần như toàn bộ nhà nước phải bao
biện ngân sách. Tại sao thế? Tại v́ chỉ có
nhà nước mới có thẩm quyền, uy tín, tài
lực đảm đương tính công bằng dân
chủ của quốc sách giáo dục: b́nh đẳng
trong cơ may, ai cũng có thể đi học, đạt
tŕnh độ nếu có năng khiếu.
Không có nhà nước, không
quyết tâm của toàn dân, th́ không thể có nền
học vấn có đủ chất lượng để
duy tŕ vị trí hàng đầu của các nước
này trên thế giới.
Bởi vậy ta không nên quá lo
ngại cho việc có mặt của các trường tư
thục ngay cả có yếu tố 100% nước ngoài.
Vấn đề đặt ra là phải có luật
lệ hẳn hoi, minh bạch để có phương
tiện can thiệp kịp thời, tránh những
chệnh hướng có thể xảy ra. Theo tôi,
việc quan trọng cần tránh nhất chính là đừng
để cho giáo dục trở thành hàng hóa thuần
túy.
Những tiêu cực hiện
hữu đă xảy ra tại các trường dân
lập Việt Nam (chất lượng kém, lợi
nhuận cao nhưng sử dụng không đúng
chỗ, mất đoàn kết v́ chia chác...) một
phần v́ ta không đề pḥng trước, kịp
thời xây dựng một khung pháp lư cần
thiết. Mặt khác v́ ta cho phép một cách nhỏ
giọt việc ra đời của các trường dân
lập, vô t́nh hay hữu ư, duy tŕ cơ chế độc
quyền, làm mất cân bằng giữa cung và cầu.
Việt Nam nên bổ sung bộ
luật doanh nghiệp, cho phép ra đời những
tổ chức dân lập, tổ chức xă hội không
có mục đích làm tiền. Các hội ái hữu, các
hội hữu nghị, hội cựu sinh viên, học
sinh các trường, hội khuyến học... là
những tổ chức thuộc loại này. Các
ĐH tư thục sẽ cũng thuộc
loại này. Chú ư là không có mục đích làm
tiền không có nghĩa là bất vụ lợi. Các
ĐH tư thục có phúc lợi nhưng không
được dư tiền, chia lăi. Mỗi năm ngân
sách chi thu phải cân bằng. Các doanh nghiệp tham gia
GD-ĐT sẽ được miễn thuế, sẽ có
mặt trong hội đồng quản trị, sẽ có
ảnh hưởng trong việc mở mang ngành
nghề, trong nội dung chuyên ngành và ưu tiên có
được cộng tác viên ḿnh cần, được
đào tạo như ḿnh muốn, hữu hiệu cho
việc điều hành và phát triển doanh nghiệp.
Phần lăi của trường phải được
đầu tư cho việc nâng cao chất lượng
đào tạo (tăng lương nhà giáo trong khuôn
khổ tối đa cho phép, mua sắm thiết bị,
mở mang pḥng ốc...), tăng cường quy mô, phát
triển ngành nghề...
Bộ GD-ĐT nên hoàn tất
luật trường tư theo định hướng
trên, nhưng thoáng trong việc quản lư để
nhiều ĐH khác sớm ra đời. Yếu tố
cạnh tranh tích cực, lành mạnh sẽ sớm có
hiệu ứng theo hướng có lợi cho người
dân. Các ĐH tư phải có một lộ tŕnh
hẳn hoi là sau một thời gian thỏa đáng (10
năm?) phải trở thành đa ngành, thích ứng
với yêu cầu công nghệ hóa, hiện đại
hóa, các ngành khoa học cơ bản, các ngành công
nghệ hiện đại... Theo lộ tŕnh này th́
những ĐH tư không nghiêm túc sẽ bị
thị trường đào thải thôi.
GS.TSKH
Nguyễn Đăng Hưng
ĐH Liège, Bỉ - Chủ nhiệm Chương tŕnh
Cao học Bỉ -
Việt Nam tại ĐH Bách khoa Hà Nội và TP.Hồ
Chí Minh
|