|
|
GSTS Nguyễn Đăng
Hưng |
GS.TSKH Nguyễn-Đăng Hưng
(Giáo sư trường ĐH Liège, Bỉ - Chủ nhiệm các chương trình Cao
học Bỉ&Việt tại ĐHBK TP.HCM và Hà Nội) được mệnh danh là
người "tiếp thị" chất xám Việt Nam, người "chở" chất xám về
Việt Nam, người “đi tìm” tiến sĩ cho Việt Nam vì đã và đang
thực hiện các chương trình đào tạo thạc sỹ Bỉ-Việt tại các Đại
học Bách khoa Hà Nội và TP.HCM, với chương trình 50 tiến sĩ
bằng học bổng Quốc gia…
Là một nhà giáo,
nhà khoa học giảng dạy ở những trường đại học danh tiếng trên
thế giới, am hiểu về hệ thống giáo dục của các nước tiên tiến,
nhưng cũng nắm bắt tường tận về nền giáo dục đào tạo của Việt
Nam, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng đã có những băn khoăn,
ray rứt trước nền giáo dục nước nhà.
Sau khi
nhắc lại những thành quả của GD-ĐT của Việt Nam (Việt Nam là
một trong những nước trên đường phát triển, đã nhanh chóng
thanh toán nạn mù chữ, Việt Nam có một hệ thống giáo dục khá
đồng khắp, Việt Nam có một đội ngũ giáo chức khá đông đảo...),
ông cho rằng những lợi thế của giai đoạn bao cấp đang trở
thành những chướng ngại trong buổi hòa nhập, trong giai đoạn
kinh tế bắt đầu phát triển.
Theo ông, cần có
những bước đột phá trong việc cải cách hệ thống giáo dục Việt
Nam bao gồm trong ba điểm đi sau đây.
1. Đổi mới tư duy
về giáo dục.
2. Vì sự chệch
hướng kéo dài hàng mấy thập kỷ, cần có quyết tâm, thời gian
và lộ trình trong việc cải tổ .
3. Để thực hiện
cải tổ phải có người mới trong và ngoài nước, có thành phần đã
từng cọ xát với các nền giáo dục của các nước tiên tiến tham
gia vào ban đề xuất ý kiến, ban tổ chức, ban kiểm
tra...
Ba điểm này đã
được đăng tải trong trang web "Hướng về giáo dục" do giáo sư
Hoàng Tụy đề xướng. Nó cũng tiềm tàng trong bản kiến nghị đã
trình chính phủ một cách cô đọng và đầy đủ mà ông đã ký chung
với 23 đồng nghiệp. Nay trả lời phỏng vấn ông dẫn giải thêm
qua một số ý kiến, kinh nghiệm cá nhân... Đặc biệt ông đề cập
rõ ràng hơn nội dung của việc đổi mới tư duy.
1. Đổi
mới tư duy là thế nào?
|
|
"Đổi mới tư duy theo tôi trước
hết là đoạn tuyệt với lề lối tập trung quan
liêu" |
1.1. Lãnh đạo
và quản lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt.
Đổi mới tư duy
theo tôi trước hết là đoạn tuyệt với lề lối tập trung quan
liêu, nói nôm na là thói quen ôm đồm, bao biện, cái gì cũng
muốn nắm, cái gì cũng muốn quản lý mà không có khả năng, không
có tài lực, không có phương pháp, gây trì trệ, nhũng nhiễu cho
nền giáo dục quốc dân… Lãnh đạo và quản lý tốt phải đồng nghĩa
với phục vụ tốt. Phục vụ muốn có hiệu quả thì phải mở cơ chế
cho thật thoáng để tăng cường khả năng phục vụ. Đây là nguyên
tắc làm việc của các nước tiên tiến có trình độ phát triển
cao.
1.2.
Cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường đại
học
Chẳng hạn, Bộ Giáo
dục và Đào tạo (GD&ĐT) cần nhanh chóng trao quyền tự quản
cho các trường đại học, bắt đầu bằng những trường trọng điểm,
những trường lớn. Quyền tự quản này bao gồm quyền tuyển sinh,
cấp bằng, quản lý và bổ nhiệm nhân sự, tổ chức và kế hoạch
việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học… Bộ chỉ dừng lại ở quản lý
khung: ngân sách (phần nhà nuớc rót về trường như thế dĩ nhiên
gián tiếp chi phối việc bổ nhiệm nhân sự), học trình quốc gia
(bất cứ trường nào cũng phải tuân thủ chương trình học do bộ
đề ra), chế độ (mức lương tối thiểu, chức danh, học hàm, tài
trợ những hướng phát triển trọng điểm, cho bổng học sinh
nghèo, hỗ trợ học sinh vùng sâu vùng xa…), thanh tra giám sát,
hiệp thương hợp tác quốc tế trên bình diện vĩ mô, vân
vân…
Chẳng hạn Bộ
GD&ĐT cần giao lại việc xuất bản sách giáo khoa cho một cơ
quan khác độc lập với Bộ (Tổng cục xuất bản sách giáo
khoa?). Bộ chỉ giữ lại vai trò giám sát.
1.3.
Trở về thực học để đào tạo người có thực tài
Tư duy giáo dục
hiện nay chạy theo thành tích, theo con số, theo hư danh.
Chính tư duy có "tính phong trào“ này đã dẫn đến tâm lý sính
đại học, coi thường cao đẳng, sính bằng cấp. Mấy năm gần đây
tại các đại học, các viện nghiên cứu lại đào tạo tràn lan, ông
thạc sĩ này ông tiến sĩ nọ có danh nhưng không có thực
chất. Đào tạo cán bộ giảng dạy cao cấp mà không cẩn thận
thì sẽ có tác hại lâu dài đến hàng chục thế hệ. Xin đơn cử một
ví dụ cụ thể để so sánh.
Ta phải trở về
thực học để đào tạo người có thực tài. Ta phải trở về với quan
điểm truyền thống của dân tộc Việt: Nhất nghệ tinh nhất thân
vinh. Bởi vì người có bằng tiến sĩ chưa chắc đã là người có
thực tài! Có nhiều tiến sĩ hiện nay tuy được đào tạo bài bản
nhưng lại phải đang “hành nghề khác”, hay không nghiên cứu
thêm, chỉ làm quản lý. Như vậy thì rất phí phạm vì chẳng đóng
góp được gì cho khoa học, cho giáo dục. Cũng có những tiến sĩ
chỉ nghiên cứu mà không tham gia giáo dục đào tạo, thì những
gì mình nghiên cứu được cũng sẽ bị lãng phí.
1.4.
Cần phân luồng, phân tầng trong việc tổ chức giáo
dục
Ở đây tôi tâm đắc
với ý kiến là cần phân luồng, phân tầng trong việc học. Và
việc này cần bắt đầu từ trung học. Tôi thấy tại Việt Nam còn
quá ít các trường cao đẳng, trường chuyên nghề, đặc biệt các
trường kỹ thuật công nghệ với thời gian đào tạo ngắn hạn. Tôi
biết hiện nay tâm lý phụ huynh là coi thường cao đẳng. Nhưng
tâm lý này sẽ khắc phục không khó nếu các trường cao đẳng gắn
bó với các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, có cơ chế
liên thông rõ ràng minh bạch, nếu các trường tiếng tăm có
quyết tâm tham gia thực hiện cơ chế này. Phụ huynh nào lại
chả muốn con mình nhanh chóng có việc làm giúp kinh tế gia
đình, nếu con em mình sau vài năm cao đẳng, năng khiếu được lộ
rõ qua kết quả cụ thể, được xét tuyển vào các trường lớn để đi
xa hơn.
|
|
"Chỉ cấp bằng cho
những người đạt trình
độ" |
1.5. Nên mềm
đầu vào và cứng đầu ra
Tôi cũng đồng ý
với ý kiến là các trường đại học nên mềm đầu vào và cứng đầu
ra, không tổ chức đào tạo như cái ống, mà đào tạo theo cái
nón.
Tại các nước
phương Tây họ áp dụng nguyên tắc chủ đạo sau đây:
"Chỉ cấp bằng cho
những người đạt trình độ". Họ quan niệm là cấp bằng cho người
không đạt trình độ là chẳng những giúp tay làm hư hại xã hội
mà trước tiên làm hư hại chính người được cấp bằng. Bởi vậy
thông thường đầu vào thì đông nhưng đầu ra thì không nhiều.
Học viên hai năm đầu bị đánh rớt rất đông, cấm thi lại quá bốn
lần. Như vậy, các em có điều kiện nhanh chóng đổi ngành,
chuyển qua cao đẳng, cho phù hợp với năng khiếu của mình,
không mất thời gian, gây hao tốn cho xã hội và gia
đình.
Quan điểm này có
hệ luận là không cần phải tổ chức thi tuyển đại học nặng nề
gây bất bình trong xã hội như hiện nay tại Việt Nam mà chỉ cần
xét tuyển nhẹ nhàng qua quá trình học vấn cấp tú tài. Nếu cần
xác định rõ hơn về trình độ thì nên tổ chức phỏng vấn trực
tiếp để loại bỏ những học viên có hồ sơ với độ tin cậy
thấp.
Hệ luận này kéo
theo một hệ luận khác là phải tổ chức lại một cách nghiêm
chỉnh hơn các kỳ thi tú tài ở trung học. Thi tú tài là xác
định trình độ năng khiếu bậc trung học của học sinh. Việc xác
định này cần được tổ chức chu đáo và đồng khắp trong đó tính
khách quan và công bình phải được đảm bảo... Phải xoá bỏ tận
gốc thói quen mà tôi hay bắt gặp tại Việt Nam: Ai cũng xuất
sắc, ai cũng tiên tiến, ai cũng 10/10. Thói quen này có lẽ
phát xuất từ chỗ thiếu tự tin, ngại chịu trách nhiệm, không
dám đánh rớt. Báo chí trong nước đã bao lần báo động việc này
mà tôi chưa thấy biện pháp cụ thể khắc phục!
1.6.
Lẫn lộn giữa giáo dục và tuyên truyền thì ta không sớm thì
chầy sẽ đi đến ngõ cụt của tri thức, đến tụt hậu của tư
duy.
Trong quá khứ, ta
hay nói đến giáo dục tuyên truyền. Trong thời kháng chiến thì
điều này là phù hợp, chính xác. Bởi buổi ấy đất nước còn bị
trị, thành phần có ý thức trong các tổ chức cách mạng chỉ là
thiểu số. Vấn đề giáo dục và tuyên truyền cho quần chúng theo
đúng đường lối, lý tưởng cách mạng, để huy động đông đảo quần
chúng nhân dân tham gia cách mạng, đi kháng chiến cứu nước,
cứu nhà là yêu cầu hiển nhiên, là tối cần thiết vì đây là sinh
mệnh của dân tộc. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn
hội nhập, nếu ta tiếp tục có tư duy lẫn lộn giữa giáo dục và
tuyên truyền thì ta không sớm thì chầy sẽ đi đến ngõ cụt của
tri thức, đến tụt hậu của tư duy.
Bởi vì tuyên
truyền, mang tính tình thế, là hướng đối tượng đi theo đường
lối, chính sách của ta. Còn giáo dục đúng nghĩa mang tính nhân
văn, lâu dài và phổ quát, lấy con người làm gốc, là phải làm
sao tạo điều kiện để đối tượng có hiểu biết để họ hành sự như
một thể độc lập, đủ khả năng thích ứng với sự thay đổi vô cùng
của bối cảnh, của cuộc sống, của sự việc. Đó là điều tất yếu
trong cuộc cạnh tranh sinh tồn trong xu thế hòa
nhập.
Giáo dục ở các
nước tiên tiến luôn luôn đòi hỏi khả năng trao đổi, thảo luận,
tinh thần phê phán phản biện. Bởi vì phải như thế học viên mới
có óc sáng tạo, tự mình phát hiện cái mới, cái hay rồi hành xử
theo điều kiện cụ thể. Không độc lập trong suy nghĩ thì
không cách gì cải tiến công việc, cải tạo cuộc sống, điều kiện
của mọi phát triển bền vững.
Cho nên các nước
phát triển, họ rất tối kỵ và không bao giờ dùng từ tuyên
truyền đi đôi với từ giáo dục.
Tóm lại đổi mới tư
duy trong giáo dục đào tạo, trước hết xoá bỏ mọi áp đặt, tuyên
truyền, nhồi nhét, là làm thế nào để con em chúng ta có thể
hấp thụ bài học một cách tự nhiên, tươi tắn, thoải mái. Các em
phải hiểu, phải tiêu hoá được giáo trình, phải yêu thích nội
dung, hình thức, tâm phục khẩu phục. Bài học phải linh động,
khoa học, đi sát với cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Có như thế
các em mới có thể tự tin, tự khám phá, tự vận dụng sáng tạo ra
những sản phẩm mới, vươn lên gánh vác sự nghiệp xây dựng đất
nước, tranh đua với các dân tộc khác - hiện nay đang đi trước,
vì họ có nhiều may mắn hơn chúng ta.
Các nước tiên
tiến, đặc biệt là ở Âu châu, đã làm được điều này, do vậy mà
họ rất phát triển. Tại Việt Nam tôi có cảm tưởng tình trạng
nhồi nhét kiến thức đã đem đến hậu quả bất ngờ, những phản ứng
ngược.
|
|
"Tại Việt Nam tôi có cảm tưởng tình trạng nhồi
nhét kiến thức đã đem đến hậu quả bất ngờ, những phản
ứng ngược" |
Mỗi năm sau thi
viết, tôi đều thực hiện thi vấn đáp qua những cuộc phỏng vấn
trực diện. Học viên muốn ghi tên theo học các lớp cao học do
tôi đề xướng và tổ chức phải là các kỹ sư, cử nhân đã ra
trường. Tôi kiểm tra ngoại ngữ, cách ứng xử, đặc biệt là kiểm
tra hiểu biết tổng quát của các em. Tôi cho rằng đã là kỹ sư
thì phải có một số hiểu biết chung tối thiểu cần thiết cho
việc hành nghề. Nhất là theo học chương trình chúng tôi là
chuẩn bị ra xứ người thực tập ngắn hay dài
hạn.
Qua kinh nghiệm
phỏng vấn 10 khóa tại TP.HCM và 6 khoá tại Hà Nội, tôi thấy
phần lớn các em đã tốt nghiệp kỹ sư, nhiều em ra trường 3, 4
năm rồi nhưng lại biết rất ít về lịch sử dân tộc, ngay cả danh
nhân của tỉnh mình, làng mình họ cũng không để ý tới. Có em
bảo với tôi là Trần Hưng Đạo đã chiến thắng quân Minh, Lê Lợi
đã đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ đã phá tan quân Mông Cổ…
(!?). Ngay cả lịch sử hai cuộc kháng chiến gần đây họ cũng rất
lơ mơ. Tôi buồn quá nên đã có lần hỏi tại sao như thế? Khi các
em không biết về lịch sử của chính dân tộc mình thì làm sao
các em có thể làm tròn bổn phận của một công dân? Các em ấy đã
trả lời thế này: “Thầy ơi, chương trình học vấn hiện nay
quá tải, nhiều giáo trình áp đặt, nhồi nhét chán quá, tụi em
học trả bài cho qua, học xong là quên hết”. Đó chính là
phản ứng ngược. Và khi tuổi trẻ có phản ứng ngược như vậy là
họ đã mất lòng tin, mất hứng thú trong việc học.
Và những tệ nạn,
sao chép, gian dối đang hoành hành trong các kỳ thi tuyển sinh
đại học có lẽ đã bắt nguồn từ đây.
Ta
đang trả giá cho những chọn lựa sai lầm trong các quốc sách về
giáo dục và đào tạo, bắt đầu đã gần hai thập kỷ
qua !
Đến đây tôi xin mở
một dấu ngoặc là tôi rất ngạc nhiên có người đánh giá tình
trạng giáo dục Việt Nam qua những thành quả "Olympic" quốc tế.
Tuy tôi rất trân trọng các thành quả này vì “có” lúc nào cũng
hơn “không”. Nhưng tôi được biết là các em tham gia "Olympic"
quốc tế là những "gà nòi" được nuôi dưởng dài hạn ở những địa
điểm "đặc biệt", nhờ các chuyên gia đặc trách. Thành quả như
vậy làm sao có tính tiêu biểu?
Một kinh nghiệm
khác cũng cần nhắc đến ở đây.
Có lần
một công ty phần mềm tính toán thiết kế cơ học hàng không ở Bỉ
có nhờ chúng tôi giúp đỡ để chuẩn bị mở một công ty tương tự
tại Việt Nam. Đã thuê phòng ốc tại TP.HCM, đã đến giai đoạn
gởi cộng tác viên sang Bỉ thực tập. Sau khi thẩm tra, họ quyết
định không mở. Vì sao? Một trong những lý do là vì các kỹ sư
Việt Nam không có tinh thần tự lập, sáng tạo. Học thì rất giỏi
nhưng trước nghịch cảnh lại không có tư duy sáng tạo, điều
tiết công việc. Người Bỉ trong việc kiểm tra đã cố ý đưa ra
những bài toán đầu đề có chỗ sai. Sinh viên Bỉ họ sửa cái sai
đó, trong khi sinh viên ta thì vẫn giữ cái sai đó và dĩ nhiên
là giải sai luôn. Đó chính là sự khác biệt.
1.7.
Trả lại cho nhà trường chức năng "thế nhân" cho nhà
trường
Để thoát ra khỏi
khủng hoảng hiện nay đã đến độ báo động, ta nên trả lại cho
nhà trường chức năng "thế nhân" của nó (ở đây tôi muốn dịch
chữ "laïcité" của tiếng Pháp). Nhà trường chân chính không thể
là chỗ đào tạo ra những tín đồ, những chức sắc, những người
chỉ biết vâng vâng dạ dạ, lặp đi lặp lại ngày này qua tháng
khác những công thức vô bổ!
Đổi mới tư duy còn
cần trở về với bản sắc chân chính của dân tộc và những giá trị
trường cửu của truyền thống phương Đông.
Đổi mới tư duy cần
đề cao nhân cách, không chỉ dừng lại ở nhân cách của các nhà
cách mạng, của các liệt sỹ, mà còn là nhân cách của các nhà
văn hoá, nhà khoa học, nhà phát minh, nhà thám hiễm, nhà giáo,
nhà nghệ sỹ, nhà doanh nghiệp, nhà hoạt động từ thiện..., tóm
lại những người tài, người hiền về mọi mặt của dân tộc và của
thế giới...
Tôi rất tâm đắc
với ý kiến sau đây trong bản kiến nghị do GS Hoàng Tụy và các
đồng nghiệp tóm lược và đề bạt:
(Nhà trường) "Cần
coi trọng rèn luyện các phẩm chất đạo đức cơ bản của con người
hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp tác,
biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích
dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn
sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn, và nhất là trung
thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần
thiết trong đời sống xã hội hiện đại. Đồng thời cần quan tâm
đến giáo dục thẩm mỹ, giáo dục cảm xúc, đào tạo toàn diện con
người có tâm hồn và thể chất khoẻ mạnh".
1.8.
Tổ chức hướng tới tri thức quốc tế
Đổi mới tư duy cần
hướng nền giáo dục và đào tạo Việt Nam đến những chân trời mới
của tri thức thế giới đa cực ngày nay. Yếu tố quốc tế phải
luôn luôn được coi trọng hàng đầu vì xu thế hoà nhập toàn cầu,
cạnh tranh quyết liệt ở thương trường năm châu, không cho phép
sự tồn tại của tư duy cục bộ, bản vị, xơ cứng.
Hướng tới tri thức
thế giới trước hết là phải giỏi ngoại ngữ. Một nước trung
bình như Việt Nam đề nuôi dưỡng hiểu biết ngang tầm thế giới
cần phải thông thạo mỗi người hai ngoại ngữ. Tôi muốn nhấn
mạnh ở chữ thông thạo chứ hiểu biết sơ sài như trình độ các
sinh viên tốt nghiệp đại học hiện nay tại Việt Nam thì chưa
thấm vào đâu. Muốn vậy cần tổ chức dạy ngoại ngữ ngay ở cấp
tiểu học. Việc tiếp thu ngoại ngữ ở cấp trung học sẽ chậm hơn,
lên đến đại học thi đã quá trễ.
Hướng đến tri thức
thế giới hiện nay ta đã có một phương tiện hữu hiệu vô song:
Internet. Việc mở rộng sử dụng Internet, công nghệ thông
tin là khâu quyết định cho việc cập nhập tri thức mới mẻ, hiện
đại... Vấn đề ở đây là tổ chức việc mở rộng ở tầm mức quốc
gia vì điều kiện kinh tế còn giới hạn của ta. Tôi lấy làm lạ
là Bộ GD&ĐT đã làm rất ít cho việc này... Thí dụ các ĐH
Việt Nam đang ở trong tình trạng vô cùng thiếu thốn tài liệu,
sách, tạp chí khoa học cần thiết cho việc nghiên cứu. Lẽ ra Bộ
GD&ĐT, theo chân các nước tiên tiến, đã từ lâu, thương
lượng với các nhà xuất bản để sinh viên, nghiên cứu sinh Việt
Nam, thông qua mật khẩu, có thể vào các trang web của các nhà
xuất bản tiếng tăm, tham khảo những tài liệu đã xuất bản. Các
sinh viên của chúng tôi đưa sang châu Âu đều được hưởng miễn
phí dịch vụ này. Và họ đã bảo với tôi: Ngồi tại Bỉ nghiên cứu
một ngày bằng một tuần ở Việt Nam!
|
|
"Tôi tự hỏi các đại học Việt Nam chừng nào mới so
sánh được với các đại học quốc tế khi thói “cha truyền
con nối” đang hiện hành khá phổ
biến!" |
1.9. Yếu tố quốc
tế cần trở thành tiêu chí căn bản trong việc đánh giá chất
lượng các đại học, các thành viên, các giáo sư, các nghiên cứu
sinh...
Thí dụ các đề mục
"có công trình công bố báo quốc tế", "có tham dự hội
nghị quốc tế", "được mời đi thuyết trình ở các đại học
quốc tế" phải trở thành tiêu chí không thể không có của
việc xác định chất lượng các giáo sư, của việc trao tặng chức
danh giáo sư. Ở Bỉ một công trình công bố trong tạp chí quốc
tế có ban biên tập quốc tế thẩm định được chấm ba điểm. Một
công trình công bố trong tạp chí quốc nội chỉ được một điểm mà
thôi. Cũng xin mở dấu ngoặc là chỉ những công trình công bố
cách đây không quá 5 năm mới có giá trị! Thử hỏi các giáo
trình đang được giảng dạy tại Việt Nam ở các ĐH đã viết ra
được bao nhiêu năm rồi ?
Với đà tăng trưởng
hiện nay, Bộ GD&ĐT hay Bộ Khoa học Môi trường dần dần cần
có quỹ để tài trợ các nhà nghiên cứu có công trình công bố tại
các Hội nghị quốc tế.
Đây là tiền đầu tư
cho chất lượng giảng dạy và nghiên cứu của các nhà khoa học.
Đây cũng là tiền đầu tư cho vai trò khoa học của Việt Nam trên
trường quốc tế. Là nhà khoa học tại Bỉ, tôi may mắn hoặc được
mời, hoặc được chánh phủ Bỉ tài trợ, tạo điều kiện cho tôi
tham dự nhiều lần (trung bình mỗi năm hai lần) các hội nghị
khoa học quốc tế. Điều tôi rất buồn là không thấy bóng dáng
người Việt Nam đến từ Việt Nam ở những dịp này. Nếu có thì chỉ
là những Việt kiều công tác tại các ĐH Âu, Mỹ, Nhật, Úc...
Tình trạng này đã kéo dài trên ba thập kỷ rồi. Trong những năm
70 cũng rất hiếm có người Trung Quốc đến từ Trung Quốc. Nhưng
tháng 9.2004 vừa qua, được mời đi thuyết trình tại Hội Nghị
Toàn cầu lần thứ 6 về Cơ học tính toán, được Trung Quốc đăng
cai tổ chức tại Bắc kinh, tôi đã là nhân chứng của sự đổi thay
vượt bậc đó. Trong tổng số 1.200 công bố khoa học, Trung Quốc
đã chiếm gần 400 bài, Mỹ và Nhật gần 300 bài, Hàn quốc gần 50
bài... Còn Việt Nam? Chỉ có 2 bài, một của một nghiên cứu sinh
sắp trình tiến sỹ do tôi hướng dẫn và một của một đồng nghiệp
tham gia chương trình đào tạo thạc sỹ MCMC của ĐH Liège, Bỉ,
đặt tại ĐH Bách khoa Hà Nội!
Đánh giá chất
lượng một luận án tiến sĩ (TS) cũng cần có yếu tố quốc
tế. Tại châu Âu, hội
đồng giám khảo một luận án TS hợp lệ phải có ít nhất một giáo
sư quốc tế (đến từ một nước khác) và một giáo sư quốc nội đến
từ một đại học khác. Nếu là luận án khoa học công nghệ thì bắt
buộc phải có đại diện của doanh nghiệp có công nghệ liên đới.
Ngoài ra, việc thâu nhận giảng viên mới ở các ĐH cũng phải
theo một tiêu chí đảm bảo được tính mới mẻ, tính quốc tế trong
khâu nhân sự. Phải hơn 50% là người đã bảo vệ bằng TS từ các
đại học khác với đại học sở tại. Tôi tự hỏi các đại học Việt
Nam chừng nào mới so sánh được với các đại học quốc tế khi
thói “cha truyền con nối” đang hiện hành khá phổ
biến!
1. 10.
Cần có kế hoạch trong việc đào tạo nhân tài bằng ngân sách nhà
nước.
Việc đào tạo nhân
tài, gởi người đi sửa soạn bằng thạc sỹ hay chuẩn bị luận án
TS ở hải ngoại bằng ngân sách nhà nước cũng cần có kế hoạch
chiến lược dài hạn. Theo chỗ tôi biết hiện nay các bộ chưa
nghĩ tới, ngoài những con số nặng nề duy ý chí ở nơi này chỗ
nọ! Không có kế hoạch và nhất là không tham khảo nghiên
cứu nghiêm túc ban đầu, tôi e sẽ không đạt hiệu quả nếu không
nói sẽ lại lãng phí thêm.
Thí dụ gởi sinh
viên đi làm TS về các ngành kỹ thuật công nghệ ta nên định
hướng, chọn nước, chọn trường cho phù hợp, cho xứng với vốn
liếng bỏ ra nhất là từ công quỹ của một nước nghèo như nước
ta. Ta phải học trực tiếp ở những nước, những trường có chất
lượng nổi tiếng, có học thuật tiên tiến, và như vậy cho từng
ngành, từng môn. Thí dụ công nghệ thông tin phải đi Mỹ, công
nghệ hàng không phải đi Pháp hay Mỹ, công nghệ điện tử nên đi
Nhật, công nghệ đóng tàu nên đi Hàn quốc... Dĩ nhiên là còn
phải chọn đúng trường, đúng thầy, đúng phòng thí nghiệm...
Tránh việc tốn tiền, tốn công mà chỉ đến nước thứ hai, thứ ba,
không học trực tiếp mà học lỏm, học những kỹ thuật quá đát,
được hướng dẫn bởi những thầy loại B, đã cằn cỗi, lỗi thời!
Ngoài ra phải có phương pháp, cách tổ chức để hạn chế tối đa
rủi ro, nạn chảy máu chất xám...
TỐ PHƯƠNG
ghi
(Xem tiếp phần
2)
|