|
|
"Điều quan trọng khác là phải sát nhập các cơ cấu
nghiên cứu và cơ cấu giáo dục đào tạo lại với
nhau" |
2.
Cần phải có thời gian, lộ trình để cải tổ nền giáo dục
đào tạo:
Việc cải tổ giáo dục tại
Việt Nam đặc biệt giáo dục ĐH như ta thấy cần một lộ trình dài
hạn. Vấn đề là phải ý thức ta ở đâu, ta phải làm gì để có
chánh sách hữu hiệu. Nhưng phải nói công việc phải làm
rất là bề bộn, cần thời gian nhất là cần quyết tâm cao độ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với
bản kiến nghị "Chấn hưng, cải cách, hiện đại hoá giáo dục"
về nhận định như sau :
"Cải cách giáo dục
theo phương hướng hiện đại hoá (như trên) là việc lớn, có
ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ xã hội nên cần có kế hoạch
chu đáo, được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ để thực hiện từng
bước, từng bộ phận, trong một lộ trình thống nhất do Quốc
hội thông qua, tránh đột ngột và xáo trộn gây căng thẳng trong
xã hội".
Thí dụ áp dụng tiêu chí
quốc tế tôi vừa đưa ra trong việc đánh giá chất lượng và chuẩn
bị đội ngũ cán bộ giảng dạy tương lai không thể tính theo năm
mà phải tính theo thập kỷ.
2.1. Chuyên tu và tại
chức
Tuy nhiên tôi thấy cũng có
những hướng có thể giải quyết ngay mà không tốn nhiều ngân
sách lại có hiệu ứng tức thì.
Tôi xin mạnh dạn đề ra hai
ý kiến cụ thể như sau.
Theo tôi, ta nên loại bỏ
việc cấp bằng cho các khóa chuyên tu, tại chức. Tôi không bài
bác ý kiến phải luôn luôn học tập. Tôi hoan nghênh việc mở
những lớp bổ túc, những lớp học cộng đồng để cho mọi công dân,
ở bất cứ độ tuổi nào, ngay cả khi đã về hưu cũng có thể tiếp
tục học tập, trau dồi kiến thức để sống vui và giúp ích cho xã
hội. Nhưng không nên cấp bằng tại chức, trên thực tế đã được
dùng tương đương như chính quy, tuy giáo trình cũng như thời
gian theo học không đủ chuẩn. Chính điều đó đã biến một số
quan chức thành người đi mua bằng, biến một số giáo chức vô
tình hay hữu ý thành người đi bán bằng. Tệ hại nhất là
việc này đã gây hoang mang trong xã hội nhất là khiến cho con
em chúng ta bị tác động theo hướng tiêu cực, bởi học làm gì
khi bỏ công sức phấn đấu dài hạn mà chắc gì có chỗ vươn lên.
Các vị có bằng tại chức chiếm chỗ hết rồi! Đó là lời tôi nghe
được từ các em sinh viên. Họ không có nhuệ khí để học thực
vì học dởm được vinh thân phì gia!.
Ta chỉ nên cấp chứng chỉ
cho những khóa học tại chức chứ không cấp bằng. Nếu thực hiện
được điều này thì sẽ có một đổi mới trong suy nghĩ chung của
nhà giáo và người đi học. Và những người muốn có bằng dởm sẽ
phải suy nghĩ lại và không chạy theo bằng cấp nữa. Như vậy ta
sẽ có một sự thay đổi đáng kể mà không tốn kém gì
cả.
2.2. Sát nhập các cơ
cấu nghiên cứu và giáo dục đào tạo
|
|
"Bởi vậy ta không nên quá lo ngại cho việc có mặt của các
trường tư thục ngay cả có yếu tố 100% nước
ngoài". |
Điều quan trọng khác là phải sát nhập các cơ cấu
nghiên cứu và cơ cấu giáo dục đào tạo lại với nhau. Vì những
trung tâm nghiên cứu không tham gia đào tạo, hoặc có tham gia
thì cũng rất ít, trong khi đó, các giáo sư trong trường đại
học lại phải giảng dạy quá nhiều không có thời gian nghiên
cứu. Giảng dạy mà không nghiên cứu thì bài giảng sẽ quá đát,
trong vòng 5 năm, 10 năm sẽ không còn giá trị nữa. Còn nếu
nghiên cứu mà không tham gia đào tạo thì sẽ thật là lãng phí.
Vì thế, trừ những viện nghiên cứu chiến lược quốc gia, ta cần
sát nhập các cơ sở nghiên cứu và giáo dục tương đồng lại với
nhau. Làm như thế ta sẽ tạo điều kiện cho những người làm việc
trong những trung tâm nghiên cứu tham gia vào việc giảng dạy,
cho phép các nhà giáo ngày đêm đứng lớp có thời gian nghiên
cứu. Ở Bỉ và nhiều nước trên thế giới, theo luật giáo dục, thì
một giảng viên phải có 50% thời gian dành cho việc nghiên cứu,
mỗi năm phải công bố trên báo chí quốc tế những công trình
nghiên cứu. Đây là cơ sở cho việc đánh giá chất lượng nghiên
cứu và giảng dạy. Việc này thực hiện không dễ vì quyền lợi bị
động chạm. Tôi đề nghị tách Bộ Đại học ra khỏi Bộ Giáo dục Đào
tạo, và sát nhập Bộ Đại học vào Bộ Khoa học Môi trường, để Bộ
Giáo dục Đào tạo chỉ lo đào tạo trung và sơ
cấp.
Ngoài ra luật giáo dục ở
Bỉ cấm các giáo sư không được dạy thêm, làm thêm ở ngoài quá
một ngày trong tuần. Không tuân thủ thì phải thôi việc. Dĩ
nhiên, họ trả lương đầy đủ để giới hạn tối đa những vi
phạm.
2.3. Chỉ nên có hai hệ
thống trường công lập và trường tư
thục.
Tôi tâm đắc với ý kiến, và
đây cũng là ý kiến của phần lớn các nhà giáo tâm huyết là, ta
phải song song phát triển giáo dục đào tạo tinh hoa và giáo
dục đại trà.
Nhà nước cần đầu tư cho
các trường trọng điểm, nâng cao trình độ giáo chức, thường
xuyên rà soát và kiểm tra chất lượng để các trường này có điều
kiện đóng vai trò chủ lực trong GD&ĐT, đào tạo những tinh
hoa cho đất nước. Ở đây cần cứng đầu vào cùng một lúc chặt chẽ
đầu ra, cần duy trì và nâng cao tính bao cấp về ngân sách
(Nhưng không bao cấp về quản lý!)...
Bên cạnh đó ta cũng phải
tổ chức một hệ thống giáo dục đại trà để đáp ứng nhu cầu học
tập của quần chúng nhân dân. Ta phải mở rộng đầu vào, mạnh dạn
cho phép hình thành hệ thống trường tư. Ở đây cần có sự rõ
ràng, minh bạch. Chỉ nên có hai hệ thống: trường công lập
và trường tư thục. Công là công mà tư là tư, không nên nhập
nhằng như hiện nay.
2.4. Giáo dục phải chăng
là hàng hoá?
Việt Nam đang có nhiều
tranh cải về giáo dục và thị trường. Giáo dục phải chăng là
hàng hoá? Theo thiển ý của tôi giáo dục là một dịch vụ, một
thứ dịch vụ bao trùm liên quan đến toàn xã hội. Chính vì vậy
mà nước nào trên thế giới cũng coi giáo dục xương sống của
phát triển, cũng có quốc sách cho thứ dịch vụ đặc biệt
này.
Bởi vậy coi giáo dục như
là một món hàng thuần túy là quan điểm, tôi xin lỗi phải dùng
một từ hơi cũ, hữu khuynh. Quan điểm này thường gần gũi các
nhà kinh tế và có nhiều ủng hộ tại các nước của khối
Anh-Mỹ-Úc...
Tôi xin lưu ý bạn đọc vài
điểm sau đây:
Tại Hoa Kỳ, Canada các
nước có nhiều trường ĐH tư phát triển sớm và có lẽ qui mô nhất
thế giới, tuy có đến 50% ĐH tư nhưng chỉ chiếm lĩnh 20% sinh
viên toàn nước. Các sinh viên còn lại phải theo học trường
công của các tiểu bang hay liên bang.
Ở nước thị trường là vua
như nước Mỹ, có nền kinh kế nhất thế giới, có các đại gia tài
phiệt thống lĩnh toàn cầu, mà dịch vụ này chỉ cung ứng có thế
thôi thì hàng hoá này quả là đặc biệt!
|
|
"Chỉ nên có hai hệ thống trường công lập và
trường tư thục" |
Tại Bỉ, địa bàn tôi biết rõ, có bốn trường ĐH đa
ngành có tầm cỡ: Bruxelles, Gent, Liège và Louvain. Sau này
thành 6 vì Bruxelles và Louvain bị xẻ làm đôi, một cho tiếng
Hà Lan và một cho tiếng Pháp. Liège và Gent là hai trường công
lập. Hai trường khác, nguyên thủy là dân lập có ý thức hệ dị
biệt như Louvain (phái giáo hội thiên chúa), Bruxelles (phái
tự do, xã hội) sau một thời gian phát triển, vì yêu cầu của
tình thế, nhất sau khi biến thành các trường ĐH đa ngành, để
có thể sống còn, đã dần dần trở thành gần trường công lập. Nhà
nước tôn trọng chế độ tự quản, nhưng nhà nước bao cấp gần như
tuyệt đối ngân sách. Năm ngoái 2003, ĐH Louvain-la-Neuve (phần
nói tiếng Pháp của ĐH Louvain) có 21 ngàn sinh viên, có ngân
sách là gần 400 triệu đô la (GDP của Việt Nam là khoảng 40 tỷ
đô la!) và nhà nước phải rót về 75% ngân sách. Học phí thu từ
sinh viên chỉ vỏn vẹn có 4% ngân sách và phần còn lại là hợp
đồng dịch vụ, dự án nghiên cứu công nghệ... ĐH Liège của chúng
tôi có 14 ngàn sinh viên, nhà nước cũng rót về một ngân sách
tương tự, tỷ lệ thuận theo số sinh viên ghi
tên!
Tại toàn châu Âu (Pháp,
Đức, Ý....) trường công lập là chính, các trường tư thục gần
như không đáng kể.
Ta thấy như thế, tại những
nước có trình độ phát triển cao nhất thế giới, có nền kinh tế
thị trường liên tục từ ngày lập nước tới ngày nay, mà
GD&ĐT gần như toàn bộ nhà nước phải bao biện ngân sách.
Tại sao thế? Tại vì chỉ có nhà nước mới có thẩm quyền, uy
tín, đảm đương tính công bình dân chủ của quốc sách giáo dục:
Bình đẳng trong cơ may, ai cũng có thể đi học, đạt trình độ
nếu có năng khiếu.
Không có nhà nước,
không có quyết tâm của toàn dân, thì không thể có nền học vấn
có đủ chất lượng để duy trì vị trí
hàng đầu của các nước này trên thế giới.
Bởi vậy ta không nên quá
lo ngại cho việc có mặt của các trường tư thục ngay cả có yếu
tố 100% nước ngoài.
Vấn đề đặt ra là phải có
luật lệ hẳn hoi minh bạch để có phương tiện can thiệp kịp
thời, tránh những chệch hướng có thể xảy ra. Theo tôi, việc
quan trọng cần tránh nhất chính là đừng để cho giáo dục trở
thành hàng hoá thuần tuý.
Những tiêu cực hiện hữu đã
xảy ra tại Việt Nam tại các trường dân lập (chất lượng kém,
lợi nhuận cao nhưng xử dụng không đúng chổ, mất đoàn kết vì
chia chác…) một phần vì ta không đề phòng trước, kịp thời xây
dựng một khung pháp lý cần thiết. Mặt khác vì ta cho phép một
cách nhỏ giọt việc ra đời của các trường dân lập, vô tình hay
hữu ý, duy trì cơ chế độc quyền, làm mất cân bằng giữa cung và
cầu.
|
|
"vô tình hay hữu ý, duy trì cơ chế độc quyền, làm
mất cân bằng giữa cung và
cầu" |
Việt Nam nên bổ sung bộ luật doanh nghiệp cho
phép ra đời những tổ chức dân lập, tổ chức xã hội không có
mục đích làm tiền (sans but lucratif). Các hội ái hữu, các
hội hữu nghị, hội cựu sinh viên học sinh các trường, hội
khuyến học… là những tổ chức thuộc loại này. Các ĐH tư thục sẽ
cũng thuộc loại này. Chú ý là không có mục đích làm tiền
không có nghĩa là bất vụ lợi. Các ĐH tư thục có phúc
lợi nhưng không được dư tiền chia lãi. Mỗi năm ngân sàch
chi thu phải cân bằng. Các doanh nghiệp tham gia GD&ĐT sẽ
được miễn thuế, sẽ có mặt trong Hội đồng quản trị, sẽ có ảnh
hưởng trong việc mở mang ngành nghề, trong nội dung chuyên
ngành và ưu tiên có được cộng tác viên mình cần được đào như
mình muốn, hữu hiệu cho việc điều hành và phát triển doanh
nghiệp. Phần lãi của trường phải được đầu tư cho việc nâng cao
chất lượng đào tạo (tăng lương nhà giáo trong khuôn khổ tối đa
cho phép, mua sắm thiết bị, mở mang phòng ốc…), tăng cường qui
mô, phát triển ngành nghề…
Bộ GD&ĐT nên hoàn tất luật trường
tư theo định hướng trên, nhưng thoáng trong việc quản lý để
nhiều ĐH khác sớm ra đời. Yếu tố cạnh tranh tích cực, lành
mạnh sẽ sớm có hiệu ứng theo hướng có lợi cho người dân. Các
ĐH tư phải có một lộ trình hẳn hoi là sau một thời gian thoả
đáng (10 năm?) phải trở thành đa ngành, thích ứng với yêu cầu
công nghệ hoá hiện đại hoá đất nuớc, các ngành khoa học cơ
bản, các ngành công nghệ hiện đại… Theo lộ trình này thì
những ĐH tư không nghiêm túc sẽ bị đào thải
thôi.
|
|
"Mong thay việc cải tổ GD&ĐT tại Việt Nam sớm thành hiện
thực" |
3. Để thực hiện cải cách phải có người
mới
Tôi cho điều này
là một hiển nhiên. Cần có chuyên gia quốc tế, có Việt kiều
tham gia những bước đi của con đường cải tổ từ giai đoạn hiến
kế đến khâu thực hiện kiểm tra thì thời gian mới được rút
ngắn, kết quả mới mỹ mãn... Việc này đòi hỏi một quyết định
chính trị có tính đột phá.
4. Lời
kết
Trên đây tôi đã
nói một mạch, không tham khảo, những điều tôi biết và thâu
lượm, liên quan đến yêu cầu cải cách giáo dục tại Việt
Nam.
Xin minh định rõ
là tôi không phải là chuyên gia nghiên cứu các hệ thống giáo
dục, tôi không phải là nhà kinh tế. Tôi chỉ là một kỹ sư, một
nhà giáo, một nhà nghiên cứu trong một lĩnh vực công nghệ mũi
nhọn khá chật hẹp. Tôi chỉ nhắc đến ở đây, những cảm nhận của
tôi sau gần 40 năm là nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học, được
tiếp cận với các trung tâm nghiên cứu, các trường ĐH lớn ở Âu,
Mỹ, Mỹ La tinh, Canada, Nhật, Úc, Phi châu, Trung Quốc... Tôi
cũng đã tham gia, đi thỉnh giảng thường xuyên tại Việt Nam từ
năm 1977 cho tới ngày nay, trừ 10 năm đứt đoạn (79-89). Những
điều tôi phát biểu, ngoài những kinh nghiệm riêng, những cảm
nhận cá nhân, những hướng đi hợp lý, phần lớn là những ý kiến
đã có người đã nhắc đến trong ấy có một số đồng nghiệp bạn bè
mà tôi được dịp gần gũi và trao đổi.
Mong thay việc cải
tổ GD&ĐT tại Việt Nam sớm thành hiện thực.
TỐ PHƯƠNG
ghi
|
Bạn nghĩ gì
về những ý kiến của GSTS Nguyễn Đăng Hưng? Bạn đồng tình
với những điểm nào và vấn đề nào cần tranh
luận?
-
Nếu là ý
kiến ngắn, mời bạn vào phần “THẢO LUẬN” bên dưới để
tham gia.
-
Nếu là bài viết dài, mời bạn gởi về địa
chỉ: nguoivienxu@vasc.com.vn |
|