|
GS.TSKH Nguyễn
Đăng Hưng (Giáo sư Trưởng trường ĐH Liège, Bỉ) -
một trí thức Việt kiều không mấy xa lạ đối với
nhiều người. Tết năm 1976 và Tết Ất Dậu 2005 vừa
qua ông đã được Nhà nước mời về Việt Nam tham
quan, ăn Tết. Ông đã có những đóng góp thiết thực
cho đất nước ngay trên đất Bỉ và đã được Bộ Ngoại
Giao Việt Nam tặng Bằng khen trong việc quảng bá
văn hóa, thương mại Việt Nam tại Bỉ. Ông đã được
Ủy ban nhân dân TP.HCM tặng bằng khen vào năm 2003
vì có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực giáo
dục của thành phố. Năm 2004 ông là đại biểu Việt
kiều tham dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần
thứ VI tại Hà Nội và cũng trong năm này, ông là
một trong 19 Việt kiều được bình chọn Danh hiệu
“Vinh danh nước Việt” do Báo VietNamNet tổ chức.
GSTS Nguyễn Đăng Hưng hiện là Chủ nhiệm các chương
trình đào tạo cao học của Bỉ về khoa học ứng dụng
tại Đại học Bách Khoa TP.HCM và Đại học Bách Khoa
Hà Nội. Ông đồng thời cũng là Điều phối viên của
chương trình đào tạo 50 tiến sĩ, được ký kết giữa
trường Đại học Liège, Bỉ và Đại học Xây dựng Hà
Nội. Và hiện nay, ông là Phó ban vận động thành
lập Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật Việt kiều
(OVS-Club).
Có thể nói, Việt
Nam là một phần “máu thịt” không thể tách rời khỏi
những công việc cũng như sự trăn trở, lo toan của
GSTS Nguyễn Đăng Hưng trong nhiều năm qua kéo dài
cho đến tận hôm nay - mặc dù trọng trách và gánh
nặng công việc của ông tại trường Đại học Liège ở
Bỉ cũng không phải nhẹ.
Người Viễn Xứ xin
giới thiệu bài viết dưới đây của GSTS Nguyễn Đăng
Hưng, như một cách chia sẻ cùng ông và hơn 80
triệu dân Việt về niềm vui lớn của một Việt Nam
được độc lập, thống nhất trong 30 năm qua; đồng
thời cũng chia sẻ cùng ông những nỗi phiền muộn về
một thời đất nước còn loay hoay trong cơ chế bao
cấp đã qua…
NGƯỜI VIỄN
XỨ
|
|
|
Thành phố Hồ Chí Minh ngày
nay |
■ Casablanca, 02 tháng 04 năm
2005…
Thối thoát mãi không được, cuối cùng
tôi chọn tháng 4, nhân dịp lễ Phục Sinh tại Bỉ để đi
thỉnh giảng cao học tại đây trong khuôn khổ một hợp tác
Bỉ & Maroc do một đồng nghiệp trường Đại học Bách
khoa Mons, tổ chức. Đã khá lâu, Việt Nam chiếm gần hết
thời gian của tôi…
Tôi ngồi viết những giòng này trong
một Cyber-Café, Casablanca, Maroc…
|
|
Một góc quán cà phê ở
Casablanca |
Tiếng người
đọc kinh Coran phát đi từ giáo đường bên cạnh vang dội
đến tôi như một cơn giông… Đã đến giờ cầu nguyện. Người
Maroc rất ư là sùng đạo. Ở đây đạo với đời như quyện với
nhau. Tuy nhiên, các vua của nước này đã có những chánh
sách rất khôn khéo, tránh được cho vương quốc này lâm
vào những thảm cảnh giáo điều cực đoan như những nước
Hồi giáo khác ở Bắc Phi như Algérie, Soudan, Libye…
Cũng như Việt nam, Maroc là một thuộc
địa cũ của Pháp. Họ đã có nhiều may mắn hơn. Vua Mohamed
V, một vị vua yên nước đã từng bị lưu đày như vua Duy
Tân của ta, đã được chánh phủ Pháp giao lại chủ quyền
(1956) mà không phải đổ máu… Sau thất bại Điện Biên Phủ,
người Pháp đã thâu thập được những bài học quý báu. Các
nước thuộc Pháp như Maroc, Tunisie đã thu hồi được độc
lập trừ Algérie. Tại đây, Pháp sẽ phải gánh chịu những
đắng cay thất bại khác vì chánh sách thực dân không cứu
chữa được của mình…
Phải nói vua Maroc Hassan II đã phần
nào thành công tuy đã phải cai trị nước Maroc trong một
thời gian dài bằng bàn tay sắt, dựa trên một chủ nghĩa
phong kiến toàn trị rất ư hà khắc. Ngày nay, nước Maroc
có thu nhập bình quân tốt, có một nền kinh tế đáng kể và
cuộc sống người dân Maroc không đến nỗi quá tụt hậu:
1.200 USD/người.
GSTS Bousshine, đối tác của chúng tôi
tại Maroc, đang giảng dạy tại trường Cao đẳng Cơ điện và
Cơ xây dựng Hassan II, Casablanca, thường hay dùng xe
riêng tạt qua khách sạn, chở tôi đi giảng dạy mỗi ngày.
Ông này chính là học trò đã làm luận án dưới sự hướng
của một học trò cũ của tôi người Pháp, GSTS de Saxcé,
nay đã bỏ Mons sang giảng dạy tại ĐH Lille, Pháp.
Thấy cảnh sát Maroc ăn mặt rất đẹp và
rất nghiêm chỉnh trong việc gìn giữ trật tự lưu thông
thành phố, tôi hỏi ông:
- Vậy cảnh sát ở đây có tham nhũng
không, có nhận tiền nhét túi riêng không?
- Có chứ, trước đây khá phổ biến.
Nhưng vua Hassan II trong một tuần đã dẹp sạch. Trong
một đợt kiểm tra, nhà vua cho người giả dạng thường dân
bắt quả tang các cảnh sát công an xấu và sa thải ngay
tức khắc hàng loạt những kẻ xấu này…
Gần đây, sau khi Hassan II mất đi, một
thái tử trẻ đã được lên ngôi kế vị, vua Mohamed VI. Vị
vua này đã hủy bỏ hầu hết những chính sách hà khắc và đã
đem lại lòng tin cũng như cuộc sống tự do thoải mái cho
người dân Maroc… Maroc đang trên đường thực hiện một lộ
trình dân chủ lập hiến, tương tự như những vương quốc
dân chủ tại Châu Âu như Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Bỉ…
Việc đầu tiên nhà vua làm là bãi chức
vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ nỗi tiếng là hung ác và mở cửa
cho các cung nữ của vua cha, cho phép họ trở về với đời
thường và có thể tái giá…
■ Marrakech, 05.04.2005
|
|
Một góc
Marrakech |
Một nhà báo
viết e-mail cho tôi, có nhã ý mời tôi viết lại những cảm
nghĩ của tôi về sự kiện 30.04.1975 nhân ngày kỷ niệm 30
năm sắp đến… Quả là không thể thoát khỏi Việt Nam!
Đã 30 năm, một khoảng thời gian dài!
Ngày lịch sử 30.4.1975 đã còn lại gì trong tôi?
Điều còn lại đối với tôi hôm nay chính
là ngày hòa bình và thống nhất.
Thật vậy, ngày ấy đánh dấu thời điểm
giang san đất Việt trở về một mối, tiếng súng đã ngừng
sau hai cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài cũng gần 30
năm.
Qua thời gian, tôi nghiệm thấy đối với
tôi có một 30.04 và có một hậu 30.04, kéo dài cho đến
Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, ngày ra đời của
những chánh sách đổi mới để đạt được những thành quả
liên tục hôm nay mà bạn bè quốc tế ai cũng đồng tình
thán phục!
Tôi nhớ lại ngày ấy tôi đang ở Milano
nước Ý. Là một nghiên cứu sinh còn non trẻ, tôi đã rất
hãnh diện được GS G. Maier, khoa trưởng khoa Cơ học Cấu
trúc trường ĐH Bách Khoa Leonardo di Vinci, mời sang Ý
trao đổi khoa học và viết cùng ông một bài báo khoa học.
Ngay hôm sau biến cố 30.04, ngày Quốc tế Lao động 01.05,
tôi đã chứng kiến sự xuất hiện của cả thành phố Milano
xuống đường ăn mừng Việt Nam chiến thắng. Quả là một đại
ngàn như vô tận cờ xí ngợp trời, sáng chói đỏ cả thành
phố!
Vâng, đã nhiều năm trước 30.04.75, tôi
đã có những giấc mơ về một ngày hòa bình thống nhất về
những ngọn cờ hồng vang dội núi sông.
Vâng, ngày ấy tôi đã có những niềm vui
gần như tột cùng, như giấc mộng triền miên thành
hiện thực…
Nhưng qua thời gian những gì còn sót
lại trong tôi sau 30 năm?
Đối với tôi có một 30 tháng tư và
những năm tháng sau đó, những năm tháng mà tôi không ngờ
được trước.
Vâng, sau những ngày vui khá ngắn ngủi
tôi lại có những nỗi buồn dai dẳng!
Nhưng hôm nay với tôi mọi chuyện đã
dần dần nguôi ngoai. Thời gian 30 năm đã làm người ta
tỉnh táo hơn khi nhìn từ xa sự việc đã xảy ra.
Tôi lật lại những chương bút ký cũ,
viết đã khá lâu…
■ Hà Nội,
29 Tết Bính Thìn, 1976
|
|
Đêm 29 Tết, Việt kiều
đổ xô đi xem chợ hoa Hà Nội.
|
Tết hòa bình
đầu tiên sau ba mươi năm chiến tranh. Tôi theo phái đoàn
người Việt yêu nước tại Bỉ về thăm đất nước. Anh chị em
Việt kiều đã tham gia những phong trào đấu tranh yêu
nước ở hải ngoại kéo về hẹn gặp nhau ở Hà Nội. Năm ấy
rất đông đủ Việt kiều đi về từ khắp năm châu, bốn biển,
từ Canada, từ Pháp, Tây Đức, Thụy Sĩ, Nhật, Úc, Bỉ, và
có cả Tân Đảo nữa. Đã liên lạc qua thư từ, qua những bức
kiến nghị, những tờ thông tin từ nhiều năm qua, bây giờ
gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, giây phút ấy không bao
giờ quên được. Đảng, chánh phủ, Mặt trận, Ban Việt kiều
trung ương đã dành cho chúng tôi những buổi tiếp đón ân
cần, niềm nở, những lời thăm hỏi thân mật, ưu ái. Không
khí hồ hởi ấy thật là khó tả! Xin mượn ở đây câu đối của
Đồ Phồn viết ra vào dịp đó:
Trăm năm đạt tới ngày này, diệt họa
xâm lăng, cả nước chung vui Xuân giải phóng Vạn
nẻo thu về gốc cũ, rửa hờn chia cắt, toàn dân cùng
hưởng Tết đoàn viên
Đêm 29 Tết, Việt kiều đổ xô đi xem chợ
hoa Hà Nội. Trong các phái đoàn Việt kiều có người để
tóc dài, mặc quần jean ống loa (thời trang trẻ bên Tây
lúc ấy). Một tiểu đội đoàn viên Đoàn thanh niên thủ đô
đứng túc trực. Họ mời các Việt kiều tóc dài vào trạm,
phê phán gay gắt cách ăn mặc ấy, xong khuyên bảo những
cá nhân này nên cắt tóc ngắn, ăn mặc gọn ghẽ hơn để theo
kịp nếp sống lành mạnh, văn minh xã hội chủ nghĩa. Ừ thì
cũng đúng thôi! Mấy anh em có vấn đề phàn nàn đôi chút,
nhưng cái vui quá lớn, xâm lấn cả tâm hồn, trí não, hơi
đâu để ý đến những chuyện cỏn con! Cũng như ngày mới về,
chúng tôi tổng số khoảng 80 người, nhà nước huy động gần
20 nhân viên ngân hàng đến tận khách sạn giúp chúng tôi
đổi tiền. Vị chi một người phục vụ cho bốn người, thế mà
từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều chúng tôi mới có được tiền
Việt Nam! Có gì đâu, cán bộ ngân hàng chưa quen việc,
thế thôi! Ai cũng bằng lòng ngay qua lời giải thích ấy!
■ TP.HCM 30
Tết Bính Thìn, 1976
|
|
Mười bảy năm trời xa
cách, nay mới thấy lại thành phố thân yêu hôm nay
mang tên Hồ Chí Minh chói lọi, còn gì xúc động
bằng!
|
Đoàn Việt
kiều lên máy bay vào Sài Gòn sáng 29 Tết, ngủ một đêm
tại khách sạn Cửu Long (Majestic), hôm sau ai nấy tự do
về thăm gia đình.
Đêm 30 Tết, tôi đi chợ hoa Sài Gòn
cùng với người cháu. Mười bảy năm trời xa cách, nay mới
thấy lại thành phố thân yêu hôm nay mang tên Hồ Chí Minh
chói lọi, còn gì xúc động bằng! Có máy ảnh trong tay,
tôi liên tục bấm máy. Cái gì cũng đẹp, cũng vui, cũng
đầy ý nghĩa! Chẳng may lúc tôi chụp chợ hoa thì có một
anh công an đứng ở đấy, nên anh bị dính trong hình! Tôi
liền bị gọi về trụ sở công an, họ đòi tịch thu máy, tịch
thu phim! Ủa sao lạ vậy! Anh em Việt kiều đã hỏi rõ và
Thủ tướng nói là đất nước đã được giải phóng, Việt kiều
muốn chụp gì cũng được, chỉ trừ những địa điểm bí mật
quân sự thôi. Chợ hoa Sài Gòn mà có gì là bí mật! Tôi
phản đối…
Thời gian cứ trôi qua, giao thừa gần
đến, tôi sốt ruột vô cùng. Gia đình đang chờ tôi về
chung đón giao thừa, đông đủ bà con cô bác. Bao nhiêu
niềm vui, bao nhiêu tình cảm ưu ái ruột thịt đang chờ
tôi. Tôi cố trầm tĩnh giải thích: «Các anh công an
bây giờ đi ngờ ngờ giữa thành phố đã được giải phóng,
còn gì là bí mật, cần gì phải giấu giếm! Chụp hình công
an đẹp trai, bên cành hoa lộng gió, trong khung cảnh
tráng lệ thanh lịch của thành phố, có gì là quấy, có gì
phải cấm!». Mấy ông công an lạnh lùng, không trả lời
cũng không cho phép tôi điện thoại về Ban Việt kiều
thành phố đến lãnh tôi ra, không cho phép cháu tôi về
nhà báo tin cho gia đình hay! Cậu cháu tôi phải ngồi
chờ, ban thường trực công an đang họp, thảo luận dây
dưa, hội ý tập thể về việc tôi chụp hình. Tôi nhìn máy
điện thoại để trên bàn, ngay trước mặt, bực tức bị bó
tay, không được phép sử dụng.
Tôi miên man nghĩ đến mấy hôm trước ở
Hà Nội tôi đã dùng máy điện thoại đặt ở bàn tiếp tân
khách sạn Dân Chủ. Tôi muốn bắt liên lạc với một ông chú
họ, đi kháng chiến đã hai mươi mấy năm nay, hiện đang
công tác tại Bộ kế hoạch kinh tế «A-lô, tôi muốn được
nói chuyện với chú tôi tên Hiệp, N.T.Hiệp, đang công tác
ở đây». Một giọng nói gắt gỏng bên kia tạt lại:
«Hiệp đi rồi, vào Nam rồi, mà đồng chí là ai, ở đâu
lại điện thoại thế?». Tôi lể phép đáp lại: «Tôi
là Việt kiều tại Bỉ, điện thoại từ khách sạn Dân Chủ
đây». «Không được điện thoại hỏi han lôi thôi nghe không
!». Giọng nạt sừng sộ làm tôi cụt hứng, tay gác ống
nói, lòng bớt vui…
Sau bốn tiếng đồng hồ hội đàm nghiêm
chỉnh, ban thường trực công an hạ quyết định thả tôi về,
chả mất chi, chỉ mất ăn giao thừa với gia đình thôi. Mấy
ông công an nói nhỏ theo: «Mong đồng chí đừng báo cáo
với cấp trên nghe, nguy cho chúng em lắm đó!». Sau
này tôi cũng chẳng nói với ai chi tiết không vui nhỏ
này. Tôi chỉ nhớ lời cháu tôi bảo trên đường về:
«Mình được thả là nhờ cậu không sợ đó, nếu cậu sợ
chắc mút mùa quá!».
■ Hà Nội
tháng 07.1977
|
|
Một góc phố Hà
Nội |
Hè 77, một
năm sau, tôi lại trở về Việt Nam. Lần này đi công tác
giảng dạy ngành chuyên môn của tôi, có chuẩn bị trước,
có giới thiệu của Đại học Liège, có công văn của Ủy ban
khoa học kỹ thuật nhà nước… Chuyên môn của tôi là phát
triển và sử dụng các chương trình tính độ bền kết cấu cơ
bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Dạy lý thuyết cho
nghiên cứu sinh ở Hà Nội mười lăm ngày, xong cùng sinh
viên lấy vé máy bay vào Sài Gòn thực tập trên máy IBM
của Mỹ để lại tại Tân Sơn Nhất.
Tôi được tiếp rước rất ân cần, nhà
nước lo cho ăn ở rất đầy đủ, tiêu chuẩn của chuyên viên
rất cao, ngang với tiêu chuẩn của thứ trưởng (theo lời
các bạn đồng nghiệp): khách sạn tiện nghi, xe Volga có
tài xế nhà nước, sử dụng tùy hỉ, đi đâu cũng được ngay
cả chủ nhật, bữa ăn bốn năm món, gói thuốc thơm mỗi
ngày! Tôi có dịp đi làm khoa học nhiều nơi ở Âu - Mỹ
nhưng phải nói chưa lần nào sướng như vậy. Ở nước Việt
Nam còn nghèo của chúng ta, có tiêu chuẩn là sướng lắm,
hơn cả ở Tây phương! Chính sự nghịch lý này làm tôi bắt
đầu đặt câu hỏi và tỉnh táo hơn trong quan sát:
- Ơ hay! Sao không để anh tài xế ngồi
bàn ăn chung với chúng ta, tôi mời anh ấy đấy!
- Sao lạ! Đem theo ít tiền muốn mua
chút quà về Sài Gòn cho gia đình mà hỏi đồ gì cũng không
có, chỉ có đồ chưng làm kiểng, ngắm cho vui qua cửa kính
thôi!
- Quái lạ! Sao ông hiệu trưởng Trường
Đại học X có vẻ không biết gì về chuyên môn, trong khi
các đồng nghiệp thứ dưới lại rất thành thạo từ sinh ngữ
đến chuyên môn!
Tôi nghĩ đến tương lai Việt Nam, nghĩ
đến sự phát triển kinh tế, đến sự vận dụng khoa học kỹ
thuật vào công cuộc kiến thiết đất nước, và đêm ấy thao
thức trằn trọc không ngủ được…
Cuối tuần mệt mỏi, nóng bức, tôi bảo
tài xế chở đi Hạ Long chơi. Cảnh trí thiên nhiên đẹp vô
ngần, nhưng tôi vẫn thấy day dứt, xót xa. Bãi tắm vắng
bóng người dân Việt Nam, chỉ một ít Việt kiều, vài người
cán bộ, năm ba chuyên gia Đông Âu… Hỏi ra mới biết, vì
lý do an ninh, đã từ lâu dân thường không được đến bãi
tắm này!
■ TP.HCM
tháng 08.1977
|
|
Một góc
TP.HCM |
Sau hai
tuần, tôi cùng đoàn nghiên cứu sinh bay về Sài Gòn thực
tập trên máy tính. Nguyên tôi có mang về một chương
trình tính lớn, chương trình vạn năng SAMCEF được thiết
kế và tạo dựng tại Đại học Liège từ những năm lục niên.
Máy IBM ở Tân Sơn Nhất không chịu chấp nhận chương trình
này vì hệ thống điều động chuyên về quản lý máy bay quân
sự Mỹ chứ không chuyên về tính toán khoa học. Chương
trình của tôi chất chứa nhiều chương trình con quá!
Thông thường tôi quen cần một chuyên gia biết sử dụng
máy bên cạnh khi có vấn đề. Đồng chí giám đốc cơ sở lần
lượt gọi ra ba bốn chuyên gia, trung úy này, đại úy nọ
trực thuộc quân đội, tốt nghiệp từ Liên Xô, Tiệp Khắc.
Cả ngày họ lục đục giải quyết vẫn không xong, máy không
chịu chạy. Tôi đề nghị :
- Máy này có từ trước giải phóng, như
vậy chắc có chuyên gia Sài Gòn cũ, sao không thử gọi một
người đến giúp tôi.
Ai nấy đều đứng đờ ra, không phản ứng.
Tôi tìm cách năn nỉ:
- Chuyến đi của tôi mất bao nhiêu công
quỹ nhà nước đôi bên, chương trình đem về có giá trị
thương mại và khoa học lớn, chạy không được té ra hoài
công, mất của, chả đâu vào đâu…
Sáng hôm sau, tôi rất mừng thấy một
anh kỹ thuật gia Sài Gòn cũ được gọi đến. Anh rất lễ
phép đến độ khúm núm, tự giới thiệu tên tuổi rành mạch.
Sau một giờ làm việc, sửa chữa, máy chấp nhận chương
trình và chạy thông suốt. Chương trình quá dài không đủ
giấy in, phải cho ngưng lại về Sài Gòn xin thêm giấy mới
in ra được hết! Tôi mừng vô hạn, rối rít cám ơn anh
chuyên gia "ngụy" và đề nghị ngay:
- Đánh dấu buổi vui hôm nay, tôi xin
mời toàn bộ ban phụ trách máy tính, các đồng nghiệp tháp
tùng từ Hà Nội một buổi tiệc tối mai tại nhà hàng khách
sạn Caravelle.
Tôi nói thêm :
- Tôi mời hết thảy mọi người, ngay cả
anh chuyên gia giúp tôi hôm nay và nhất là anh ấy vì anh
đã cứu nguy cho tôi vào giờ chót…
Tối hôm sau, tại tầng lầu cao nhất
khách sạn Caravelle, buổi tiệc được đông đủ mọi người
đến dự: đại tá giám đốc, đại úy tổ trưởng, trung úy máy
tính, các vị đồng nghiệp, ngay cả gia đình tôi. Duy có
anh chuyên gia Sài Gòn cũ thì không thấy. Hỏi ra chẳng
ai biết lý do. Tôi buồn năm phút…
■ TP.HCM
tháng 08.1979
|
|
"Trở vào Sài Gòn ở thêm một tuần
với gia đình trước khi chuẩn bị lên đường trở lại
Âu
châu"... |
Hè năm 79,
tôi lại về Việt Nam nối tiếp công tác cũ. Lần này tôi
quyết định thâu ngắn chương trình giảng dạy, đặt trọng
tâm giúp gia đình giải quyết những vấn đề sinh nhai hóc
búa hàng ngày, cùng gặp gỡ trao đổi sâu hơn với các bạn
bè khoa học trong nước. Tôi thấy đặt ra những vấn đề
khoa học tính toán cao siêu như không đâu vào đâu nữa.
Khoa học đã trở thành một thứ xa xí phẩm vô vị trong một
khung cảnh xã hội chưa giải quyết được miếng ăn, manh
áo…
Tôi từ giả Hà Nội, trở vào Sài Gòn ở
thêm một tuần với gia đình trước khi chuẩn bị lên đường
trở lại Âu châu. Thỉnh thoảng lấy xích-lô đi dạo phố
giải khuây. Nhìn anh xích-lô, gương mặt sáng sủa, ăn nói
lời lẽ rành mạch, tầm hiểu biết khá sâu và cao, tôi lấy
làm lạ. Chú ý nhìn mãi mới nhớ ra:
- Trời! Có phải anh là Cẩn không? Cẩn
học trường Ponts bên Paris về nước năm 67?
- Vâng, phải Hưng không? Hưng đi Bỉ
năm 60 phải không?
Thành ra anh bạn học xuất sắc tôi từng
thán phục ngày nào bây giờ phải đạp xích-lô để kiếm ăn
qua ngày…
Lên sân bay Tân Sơn Nhất, tôi nhìn lại
gia đình, bè bạn đi đưa, nhìn những ánh mắt đăm chiêu,
những gương mặt hốc hác, lòng tôi như có gì ảm đạm, xót
xa hơn những chuyến trước. Tôi thấy tôi càng ngày càng
xa cách. Một giới tuyến vô hình nhưng vô cùng kiên cố đã
được dựng lên giữa họ và tôi, và phải qua thời gian tôi
mới nhận diện ra nó một cách chắc chắn. Kỹ thuật đông
lạnh tinh vi nào đã hình thành những khối băng khổng lồ
vĩnh cửu, co cứng lại ngay trong vùng nhiệt đới! Tôi cố
bào chữa, nghĩ đến chiến tranh tàn phá, cán bộ tiêu hao,
nhưng vẫn thấy toát ra những điều nghịch lý của một cơn
ác mộng. Sự thật đã vượt quá sức tưởng tượng của tôi. Có
một cái gì tuyệt đối, triệt để, một chiều đến độ khó tin
được. Có một cái gì xơ cứng, đi ngược lại với lẻ thường…
Và những tệ đoan này đã trở nên nề nếp bình thường, bình
thường đến mức không mường tượng ra nổi!
Tôi thấy tôi chỉ là một người tình
nhân có lòng tin yêu tha thiết nhưng ý trung nhân của
tôi đã đặt tôi vào chuyện đã rồi, vào hoàn cảnh không
trở lại được nữa. Những năm tháng dài đằng đẳng sau này
phải cố sống trong khổ đau, trong yên lặng, âu cũng là
phản ứng yếu đuối của lòng tự trọng còn sót lại…
■ Kinshasa
tháng 12.1981
|
|
Một góc
Kinshasa |
Trở sang Bỉ,
tôi quyết định đưa đơn xin vào quốc tịch nơi cư ngụ. Tôi
vốn rất thích đi đó đi đây, và nghề nghiệp cho phép
thường xuyên đi tham dự hội nghị, hội thảo khoa học khắp
năm châu. Tờ hộ chiếu Việt Nam đặt cho tôi bao nhiêu vấn
đề mỗi chuyến đi. Tôi lại quyết định chấp nhận được đề
cử thuyên chuyển đi dạy ở Kinshasa, Congo, Phi châu,
trong thời gian dài bốn năm.
Congo thuộc Bỉ là một nước dân trí còn
kém. Lúc thu hồi độc lập (1960), tri thức có cấp bậc đại
học đếm trên đầu mấy ngón tay. Đất nước được thiên nhiên
hậu đãi, tài nguyên dồi dào, khí hậu thuận lợi. Đất tốt,
mưa nhiều, cây cỏ tự mọc lên, người dân chỉ hái lượm
cũng đủ ăn. Trong quá trình phát triển, họ không qua
giai đoạn làm nông. Chính cái chỗ họ đốt giai đoạn đi
thẳng lên công nghiệp hóa, đã gây ra không ít vấn đề
trên con đường mở mang kinh tế. Dân chúng ăn mặc nói
chung sạch sẽ, ăn uống nói chung đầy đủ. Đám đông người
Congo tươm tất, tươi vui hơn đám đông mà tôi thấy tại
Việt Nam. Ý nghĩ ấy làm tôi thấy xót xa, tủi phận, chán
chường…
Cơ quan quốc tế nào cũng có mặt ở đây.
Chánh phủ Congo giao dịch với hầu hết các nước trên thế
giới. Nhật xây một chiếc cầu lộng lẫy, cầu treo Matadi.
Pháp xây trung tâm vô tuyến truyền hình nguy nga. Tây
Đức xây trung tâm thương mại tân kỳ. Trung Quốc xây một
dinh Hội Nghị thênh thang. Hoa Kỳ xây trung tâm nông
nghiệp rất là qui mô. Bỉ xây làng đại học Kinshasa thật
là đồ sộ…
Những người đi hợp tác quốc tế như tôi
thường có dịp gặp nhau trong những buổi tiếp tân, tiệc
tùng. Và trong những buổi ấy, người da vàng như tôi
không phải là hiếm:
- Anh phải Việt Nam không?
- Vâng.
- Anh từ đâu tới?
Và những câu trả lời là:
- Từ Canada, tôi đi với tư cách chuyên
gia của chánh phủ Canada về ngành luyện kim.
- Tôi từ Hoa Kỳ, cố vấn nông nghiệp.
- Tôi từ Pháp sang, chuyên gia hàng
không chánh phủ Pháp gởi sang giúp hãng Air Congo.
- Tôi cũng là Việt Nam nhưng từ Tây
Đức, chuyên gia khai thác rừng của một hãng tư gởi sang.
- Tôi từ Thụy Sĩ, chuyên gia ngân
hàng.
- Tôi cũng từ Pháp, nhưng sau đó sang
định cư tại Luxembourg vì làm cho Thị trường chung Âu
châu. Hiện tôi là đại diện Thị trường chung Âu châu tại
Congo.
- Tôi từ Anh, di tản kiếm ăn từ năm
75, nay làm cho Ngân hàng quốc tế, chuyên gia cầu đường.
- Và tôi cũng là người Việt Nam, đi từ
Bỉ sang hợp tác đại học về ngành cơ…
Rồi chúng tôi hẹn gặp lại ngày Tết
Việt Nam, ăn chung cái Tết Congo, Tết rất là thật, có
câu đối, có cành mai, có bánh chưng, có tràng pháo và
nhất là có chung một tâm trạng của những chất xám lưu
vong… Rồi càng ngày chúng tôi càng thân nhau, tuy mỗi
người, mỗi gia đình vẫn giữ quan điểm riêng của mình về
chánh kiến, về lịch sử, về Việt Nam, mỗi người có một
quá khứ riêng, một hoàn cảnh riêng. Phải nói phần đông
chúng tôi có địa vị khá quan trọng trong lãnh vực của
mình và chánh quyền Congo giao cho chúng tôi những trách
nhiệm không phải là nhỏ. Và nhờ liên lạc thân thiết
thường xuyên, nâng đỡ nhau trong công việc và cuộc sống,
nhờ ban giao tốt với người sở tại, chúng tôi được tiếng
lành là những người Á châu hữu hiệu và năng động. Đôi
khi ngồi lại, suy nghiệm chuyện đời, chúng tôi ai nấy
không khỏi bật cười cho cái cảnh éo le của con người
Việt Nam lúc ấy. Phải đi sang cái xứ Phi châu xa xôi này
mới tìm thấy được một khung cảnh Việt Nam hài hòa, đa
dạng, mới có trách nhiệm đúng với khả năng, mới được
trọng dụng và biết quý trọng lẫn nhau…
Một hôm, tình cờ tôi vào cơ quan IBM.
Thấp thoáng bên trong một dáng dấp người Á châu. Tôi
chưa kịp hỏi, người ấy chạy ra chào tôi :
- Phải ông là Hưng không? Giáo sư
Hưng?
- Hình như tôi đã gặp anh, ở đâu không
nhớ.
- Tôi là Phu, chuyên viên IBM có làm
việc với anh ở Tân Sơn Nhứt năm 77 ấy mà. Ông không nhận
ra tôi sao? Tôi đi chui, định cư tại Hoa Kỳ năm 81, được
cử sang đây vì tôi nói thạo tiếng Pháp.
Giờ đây tôi mới hiểu ra lý do vì sao,
bữa tiệc tại Caravelle, anh bạn chuyên viên Sài Gòn cũ
đã không đến được.
■ TP.HCM,
Tết 1989
|
|
Sài Gòn - TP.HCM ngày
nay có nhiều đổi thay…
|
Tôi lại trở
lại Việt Nam sau 10 năm đứt đoạn. Gió ấm đã nổi lên từ
lòng đất, từ lòng người, từ bờ sông Volga, sông Dương
Tử. Những tản băng hà đã bắt đầu tan dần.
Một buổi sáng, tôi bước vào quán phở
nhỏ gần trường đua Phú Thọ để ăn điểm tâm. Những tiệm
phở, quán cà-phê, sạp bún bò Huế như vậy ngày nay mọc
như nấm. Anh chủ tiệm mập mạp săn đón ân cần:
- Chắc bác là Việt kiều mới về?
- Vâng, tôi từ Bỉ về ăn Tết.
Giọng nói khá nặng của một tỉnh miền
Bắc của anh chủ tiệm làm tôi chú ý.
- Chắc bác mỗi năm về ăn Tết ạ?
- Đây là lần thứ hai, lần đầu cách nay
mười ba năm. Cũng có về mấy lần nữa nhưng chỉ vào dịp hè
thôi. Tết đầu tiên của tôi ở Việt Nam là Tết Bính Thìn
76.
- Tết Bính Thìn, bác ở Bỉ, thế em biết
bác, bác còn nhớ em không?
- ???
- Bác quên em rồi. Em là công an nhân
dân công tác ở quận nhất ấy mà, bác chụp hình ấy mà, bác
nhớ ra chưa?
Té ra anh công an mảnh khảnh ngày xưa
bây giờ đổ ra làm chủ tiệm phở, mập mạp hơn trước nhiều,
làm tôi không nhìn ra được.
Vâng, Sài Gòn lúc ấy đã bắt đầu có
nhiều đổi thay…
■ TP.HCM
15.04.2005
|
|
Thành phố đang nhộn nhịp chuẩn bị
kỷ niệm 30 năm giải
phóng… |
Tôi lại về
Việt nam sau những ngày ở Maroc, lại tiếp tục công việc
giảng dạy Cao học tại các trường ĐH Bách khoa. Thành phố
đang nhộn nhịp chuẩn bị kỷ niệm 30 năm giải phóng…Những
cuộc Hội thảo đã được tổ chức, những đánh giá về cuộc
chiến có rất nhiều, những nhân chứng đã viết lại những
mẩu chuyện rất là sinh động…
Câu hỏi của nhà báo làm tôi miên mang
suy nghĩ suốt chuyến đi. Đâu là cảm nhận của tôi về bài
học lịch sử này…
Tôi rất trân trọng và tâm đắt với lời
phát biểu gần đây của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt,
"nhìn lại quá trình kể từ khi kết thúc chiến tranh
thì tôi thấy tiếc. Giá như đổi mới sớm hơn thì chúng ta
có thể đã không phải trải qua những năm trả giá đắt như
giai đoạn 1975-1985". Đấy là bài học mà tôi muốn ghi
lại ngày hôm nay. Đó là những đúc kết trung thực và quý
báu.
Bạn bè quốc tế có người đã bảo
30.04.75 là chiến thắng của lương tâm con người trước sự
tàn bạo của khí giới tối tân phi nhân. Điều này rất đúng
nhưng bài học hậu 30.4 gợi cho tôi thêm một ý là chiến
thắng khó nhất là chiến thắng chính mình, chiến thắng và
“tránh xa sự tự mãn, tránh xa bệnh say sưa thành
tích” như lời cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, chiến thắng
lòng cừu hận, chiến thắng trong tinh thần bao dung, hòa
bình…
Nhắc lại những kỷ niệm cũ không phải
để bài bác mà để tâm niệm về những gì đã qua, rút ra
kinh nghiệm cần thiết cho vịêc vận hành tương lai, tránh
cho những chuyện không hay có thể tái phát.
Tôi xin ghi thêm là sau 30 năm, điều
khó nhất nhưng cần nhất là nhìn thẳng vào sự thật, nhận
thức rõ những bài học đắng cay, xác định dứt khoát và
gạt bỏ những cái không hay. Thật vậy, nếu ta lấp lửng,
bỏ qua thì có ngày những thứ ấy sẽ quay trở lại lúc nào
không biết. Lịch sử cận đại của Việt Nam không thiếu
tình trạng lặp lại đáng tiếc này.
Xu thế đoàn kết toàn dân, phát huy thế
mạnh của dân tộc để hội nhập và phát triển vững bền,
thực hiện những mục tiêu đã đề ra như công bằng, dân
chủ, phú cường, cần sự ổn định của những trái tim, lòng
tin của mọi người Việt Nam vào một tương lai xán lạn…
TP.HCM ngày
29.04.2005 N.Đ.H
|